MỤC LỤC
5. Phong cùi – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 10
6. Vâng phục, tín thác và tri ân
9. Một Vị Thiên Chúa vượt trên lề luật, phong tục...
10. Đức Giêsu- Đấng chữa lành mọi bệnh tật
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
12. Giơ tay đụng vào – Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
13. Bệnh phong cùi – Thiên Phúc
14. Hăy đem đến cho xă hội chút t́nh người
16. Chữa người phong cùi – Radio Veritas Asia
17. Chạnh ḷng thương – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu
18. Tội lỗi c̣n hơn phong cùi nữa – Yvon Daigneau.
19. Ai là người đồng thời với người phong cùi?
20. Bệnh "cùi" tâm hồn và thân xác
21. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
24. Suy niệm của Lm Vũ Đ́nh Tường.
25. Suy niệm của Lm. Trần B́nh Trọng
26. Đối với Thiên Chúa, không ai là người bị bỏ rơi.
27. Suy niệm của Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.
30. Niềm vui tăng – Lm. Vũ Đ́nh Tường
31. Chia sẻ niềm vui – Lm. Vũ Đ́nh Tường
32. Lạy Ngài, nếu Ngài muốn th́ Ngài có thể
35. Được lành sạch để hoà nhập lại cộng đoàn
36. Đức Giêsu, Đấng cứu chữa người bất hạnh
37. Cứu chữa khỏi bệnh phong hủi trong tâm hồn.
38. Chúa thương chữa người bệnh cùi
39. Niềm tin vào ḷng thương xót
42. Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi.
43. Hăy loan báo tin vui – ĐGM. Arthur Tonne
45. Lời của Thiên Chúa có sức chữa lành...
52. Hăy được lành! - Lm. Mark Link, SJ.
56. Đức Giêsu chữa người bị phong cùi – JKN
57. T́nh thương và bác ái - Lm. Thu Băng
58. T́nh thương- Lm. Nguyễn Hữu An
60. Đức Giêsu chữa một người phong hủi
61. Suy niệm của Lm. Giuse Lê Minh Thông
63. Chú giải của William Barclay
65. Thiên Chúa giàu ḷng thương xót
Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta
thấy Chúa Giêsu đă chữa lành bện phong cùi cũng
như đă chữa lành những bệnh hoạn tật
nguyền khác nữa. Tuy nhiên, ngài c̣n là một vị bác sĩ
thiêng liêng, chữa lành những đau yếu phần hồn
của chúng ta.
Thật vậy, trước hết ngài chữa lành những vết thương trong tâm hồn bằng những lời giảng dạy đầy khôn ngoan. Đúng thế, Tin Mừng sẽ làm cho con người được hạnh phúc, được khoẻ mạnh và được tự do. Nếu như tất cả chúng ta đều tuân giữ những điều ch́ dạy của vị lương y thần linh này, th́ thế giới đă thoát khỏi biết bao nhiêu tai hoạ khủng khiếp. Chúng ta chỉ cần nhắc lại một vài nét đại cương, chẳng hạn với bài giảng trên núi, Chúa bảo: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, yêu chuộng hoà b́nh, phúc cho ai dịu hiền và khổ đau. Rồi Ngài c̣n xác định rơ ràng: Hăy yêu thương kẻ thù địch. Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét. Hăy t́m kiếm Nước Thiên Chúa. Bằng đó cũng đă đủ để chúng ta thấy được con đường giải thoát bản thân chúng ta cũng như toàn thể thế giới.
Tiếp đến Ngài chữa lành những vết thương trong tâm hồn chúng ta bằng những phương tiện hữu hiệu, đó là các bí tích. Nhất là với bí tích Giải Tội và Thánh Thể. Thực vậy, nhờ hai bí tích này mà Chúa Giêsu chữa lành những tâm hồn tội lỗi, an ủi, bổ dưỡng và đem lại sự b́nh an mà thế gian không thể trao ban. Một ông bác sĩ đă viết: Ngoài bí tích Giải Tội và Thánh Thể, chúng ta sẽ không thể t́m thấy một phương tiện nào khác, khả dĩ đem lại sự nâng đỡ, sức mạnh và b́nh an cho tâm hồn, đúng như lời Chúa Giêsu đă nói: Hỡi tất cả những ai gồng gánh nặng nề, hăy đến với Ta và Ta sẽ bổ sức cho các ngươi. Hay như một mục sư Tin Lành cũng đă nói: Việc xưng tội riêng là điều cần thiết để tâm hồn được khoẻ mạnh và b́nh an, cũng như làm cho thần kinh giảm bớt đi được sự căng thẳng.
Sau cùng, Chúa Giêsu chữa lành những vết thương trong tâm hồn bằng sự hiện diện đầy t́nh thương xót của Ngài. Thực vậy, là vị lương y, Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta trong những giờ phút đau khổ, Ngài lắng nghe những lời chúng ta kêu cầu ngày cũng như đêm. Nhất là trong nhà thờ với bí tích Thánh Thể như lời Ngài đă phán: Này Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Chúng ta hăy nhớ lại quang cảnh người phong cùi t́m đến gặp Chúa và nói: Lạy Thầy, xin thương xót đến tôi cùng. Nếu những người bệnh biết t́m đến bác sĩ, th́ sự đau yếu của họ sẽ được chữa trị, nếu chúng ta biết t́m đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta sẽ được an ủi và khích lệ trước những khổ đau gặp phải. Bởi đó hăy chạy đến với Chúa và hăy kêu xin Chúa: Lạy Chúa xin thương xót con. Và lúc bấy giờ tâm hồn chúng ta sẽ ngập tràn niềm vui mừng và hy vọng, như lời Chúa đă bảo: Không phải những người khoẻ mạnh mà là những kẻ đau yếu mới cần đến thầy thuốc.
Theo luật Do Thái, những người phong
cùi không được sống trà trộn với dân chúng.
Đồng thời ai nấy phải lo giữ ḿnh, không
được động chạm tới họ. Họ phải
sống riêng biệt ngoài thành, mặc áo rách, để tóc
dài, không cạo râu. Nếu chẳng may gặp người
mắc bệnh th́ phải hô to lên để những
người khác t́m lối tránh. Những người mắc
bệnh không những chỉ đau khổ phần xác mà c̣n
đau khổ phần hồn v́ họ luôn phải sống
trong một t́nh trạng cô đơn và tuyệt vọng.
Đối với ngày xưa, cũng như đối với hôm nay, chứng bệnh này vẫn c̣n là một nan y khó chữa, chính v́ thế chúng ta hiểu được tại sao người bệnh qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, đă bất chấp lề luật, chạy đến t́m gặp Chúa Giêsu, v́ anh nghĩ rằng ḿnh không c̣n phương tiện nào khác để được khỏi. Niềm hy vọng duy nhất của anh trong lúc bấy giờ là Chúa Giêsu. Bởi đó, anh đă quỳ xuống, sụp lạy Ngài và xin Ngài cứu chữa. C̣n Chúa Giêsu đă đón nhận anh một cách nhân từ, chữa lành cho anh và bảo anh phải đi tŕnh diện với hàng tư tế để được chứng nhận là ḿnh đă khỏi thực sự. Qua cử chỉ và thái độ của Chúa, chúng ta nhận thấy Ngài thực t́nh thương xót như tiên tri Isaia đă viết: Ngài coi mọi bệnh tật của chúng ta như là của riêng Ngài, Ngài mang lấy hết mọi tai ương của chúng ta. Trước thái độ tin tưởng của người phong cùi, Chúa Giêsu đă đặt tay trên anh và chữa lành cho anh, cũng như Ngài đă từng cứu chữa biết bao những kẻ bệnh hoạn tật nguyền t́m đến với Ngài.
T́nh thương này không phải chỉ được biểu lộ với những người đau khổ thân xác, mà c̣n đối với những người đau khổ phần hồn, tức là những kẻ tội lỗi. Chính Ngài đă xác định lập trường: Ta đến để kêu gọi những kẻ tội lỗi. Một người tội lỗi trở lại sẽ làm cho cả thiên đàng vui mừng hơn là 99 người công chính không cần ăn năn sám hối. Chính v́ vậy, Ngài không ngần ngại ngồi ăn uống với những người mà bọn biệt phái liệt vào hạng tội lỗi như Lêvi và Giakêu. Đồng thời Ngài c̣n sẵn sàng tha thứ cho người thiếu phụ ngoại t́nh, cho tên trộm lành và nhiều người khác nữa.
Hẳn chúng ta đă biết qua về cuộc đời của cha Đamiêng, vị tông đồ người hủi. Ngài sinh tại nước Bỉ, gia nhập ḍng Trái Tim Chúa và Mẹ Maria. Sau khi làm linh mục, ngài được sai đi giảng đạo tại Hạ Uy Di. Sau đó ngài t́nh nguyện đi giúp những người cùi ở Molokai. Ngài đă hy sinh trót cả cuộc đời, sống với họ, giúp đỡ họ và chết giữa họ.
Như chúng ta đă biết, phong cùi là một chứng bệnh nan y và ghê sợ, nó làm cho cơ thể bị lở loét, người mắc bệnh mặc dù c̣n sống nhưng thực sự chỉ là một thây ma biết đi với một thân h́nh hôi thối. Đó cũng chính là h́nh ảnh của một tâm hồn tội lỗi, bởi v́ tội lỗi cũng sẽ làm cho tâm hồn chúng ta trở thành nhơ nhớp, hôi thối và chết đi như vậy. Tuy nhiên chúng ta đă có một vị lương y thần diệu đó là Chúa Giêsu. Nếu muốn được chữa lành, chúng ta hăy bắt chước người phong cùi chạy đến sấp ḿnh trước mặt Chúa, xin Ngài xót thương. Ngài cũng sẽ bảo chúng ta tŕnh diện với linh mục, nghĩa là hăy chạy đến toà giải tội với tâm t́nh thống hối ăn năn, hầu nhờ đó mà chúng ta sẽ được chữa lành, được tha thứ.
Bệnh cùi là một chứng bệnh hay lây,
và theo quan niệm của người Do Thái, dưới cái
nh́n tôn giáo, th́ bệnh cùi là do tác động của một
thứ thần ô uế. Người mắc bệnh cùi bị
liệt vào hàng những kẻ dưới quyền lực
của ma quỷ và lẽ đương nhiên họ không
được quyền chung đụng với người
trong sạch. Theo lề luật Do Thái, có cả những khoản
quy định t́nh trạng xă hội của những kẻ
mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo này. Họ bị
tách biệt khỏi cộng đồng loài người, cả
về phương diện xă hội lẫn tôn giáo.
Đoạn Tin Mừng tuy ngắn ngủi nhưng đầy chi tiết giúp chúng ta hiểu được tầm mức và ư nghĩa hành động của Chúa Giêsu. Thực vậy chính người mắc bệnh phong cùi đă đi bước trước. Anh đến với Chúa và van xin Ngài cho anh được lành sạch. Lời van xin bao gồm nhiều ư nghĩa. Anh muốn Chúa Giêsu cho anh được lành và qua đó, cho anh trở thành người sạch và được gia nhập cộng đồng xă hội.
Hành động của người mắc bệnh quả là táo bạo. Anh đă liều lĩnh vượt ra khỏi những điều luật lệ quy định là phái xa tránh người khác, thậm chí c̣n phải la to để người khác biết mà tránh. Anh đến với Chúa Giêsu, để tŕnh bày t́nh trạng của ḿnh, cũng như ư muốn được chữa lành. Hành động liều lĩnh này hẳn phải xuất phát từ ḷng tin tưởng không những ở quyền năng của Chúa Giêsu có thể chữa lành bệnh, mà nhất là ở ḷng nhân từ thương yêu của Ngài, muốn giải thoát người ta khỏi bệnh tật. Chắc là anh đă từng được nghe thiên hạ nói về Ngài. Diễn tiến của sự việc cho thấy anh đă không tin tưởng hăo huyền. Chúa Giêsu đă chạnh ḷng thương trước thái độ và ḷng tin của anh. Và Ngài đă làm phép lạ để cứu chữa anh.
Nh́n vào hành động của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài cũng đă không ngần ngại vi phạm điều lề luật quy định v́ Ngài đă giơ tay đặt trên người bệnh. Dĩ nhiên, không thể coi đoạn Tin Mừng này như là một sự khuyến khích cho việc vi phạm lề luật, nhưng cách xử sự của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy c̣n có những cái quan trọng hơn cả việc tuân giữ lề luật, hay nói cách khác, lề luật v́ con người chứ không phải con người v́ lề luật. Bằng chứng là tiếp đó chúng ta lại thấy Chúa Giêsu căn dặn người được lành hăy đi tŕnh diện cùng trưởng tế, dâng của lễ theo luật Maisen. Một nghi thức mà tất cả những người được khỏi bệnh cùi, v́ lư do nào đều phải làm để được công khai và chính thức tuyên bố là ḿnh được khỏi, được sạch và do đó được quyền vào lại trong cộng đồng xă hội.
Người mắc bệnh phong cùi là h́nh ảnh tượng trưng cho tâm hồn tội lỗi, v́ tội lỗi cũng chính là thứ phong cùi thiêng liêng, làm cho tâm hồn chúng ta trở nên hôi thối và chết dần chết ṃn. Bời đó, với một ḷng tin tưởng, chúng ta hăy chạy đến với Chúa Giêsu, để được chữa lành, để được tha thứ, nhờ đó, chúng ta được liên kết với Thiên Chúa và với anh em, sợi dây liên kết này vốn đă đứt đoạn do tội lỗi của chúng ta.
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ
Khắc Nghiêm)
Trong chuyến đi từ Sàig̣n đến Quy Nhơn năm 1960, tôi giữ măi một kỷ niệm, không phải kỷ niệm thăm bến cảng, tháp chàm Chiêm Thành hay tường thành Đế đô Quang Trung, nhưng là một làng cùi. Đi đầu đoàn là Giám Mục, Linh mục rồi đến chủng sinh, phải vượt qua mấy ngọn đồi hoang vắng mới đến làng cùi. Bước tới cổng làng, mọi người đều xúm quanh một ngôi mộ của một người cùi nổi tiếng: thi sĩ thời danh Hàn Mặc Tử. Một người cùi đă biến những rung cảm trong sầu khổ thành những vần thơ tuyệt diệu, óng mượt như tơ vàng, nhẹ nhàng như hơi thở, run run như giây đàn. Từ cổng làng vào đến trại, ai nấy đều im lặng, một thứ im lặng rờn rợn sởn gai ốc, v́ những ư nghĩ đen tối ghê tởm về bệnh cùi đang lởn vởn trong đầu óc.
Họ đó, người cùi đó. Đó là những d́ phước mặc áo trắng đi đầu hàng những người cùi ra đón phái đoàn. Họ vui vẻ, tươi cười, không một chút lo ngại, không một chút mặc cảm tủi hổ về thân phận của ḿnh.
Chúng tôi bỡ ngỡ, ngó qua ngó lại. Một đám trẻ cùi đang xích lại gần chúng tôi. Chúng tôi ái ngại nh́n chúng từ đầu đến chân. Con những người cùi đó. Họ ở trong những căn nhà xây nho nhỏ, sạch sẽ dưới những hàng dừa mát rợi. Nhưng tội nghiệp biết bao! Họ cụt tai, rụng mũi, đục mắt, mất răng, xún lợi, hở hàm, trông như những chiếc đầu lâu cải mả. Chân tay họ như không c̣n ngón nào. Họ bị sống xa xă hội như bị lưu đầy trong hoang địa rừng rú. Chỉ có mươi bà phước đang sống lăn lộn với họ. Đó là nguồn ủi an duy nhất của họ ngoài niềm tin ra.
Lạy Chúa Giêsu, chỉ một ḿnh Người đă thấu nỗi ḷng sầu thảm của người cùi. Người đă đến với họ, thương yêu an ủi họ, tiếp đón họ và cứu chữa họ lành mạnh cả thể xác tâm hồn. Người đă quư mến họ hơn tất cả châu báu thế gian … v́ họ là quư tử của nước Trời.
Thế gian xưa cũng như nay, Do thái cũng như Hy lạp, phương Đông cũng như phương Tây đều ghê tởm xua đuổi họ. Nhưng chỗ nào có tiền của, có bụi vàng, có địa vị, có thú vui, thế gian xô nhau đến luồn cúi, lăn lộn, đào bới, moi móc đến bỏ mạng. Thế gian quư vật chất hơn quư người.
May thay, Hội thánh Chúa luôn luôn theo chân Đấng Cứu Thế phục vụ con người, dù đó là ai, nghèo đói, bệnh tật, khốn cùng, da vàng hay da đen, tự do hay nô lệ đều được con cái Hội thánh Chúa, như cha Đamiêng, Đức Giám mục Catxe (Cassaigne) đă phục vụ người cùi cho đến hơi thở cuối cùng. Hàng trăm hàng ngàn tu sĩ đă săn sóc người cùi như anh em một nhà.
C̣n chúng ta, chúng ta được phúc là những người lành mạnh, được sống chung với gia đ́nh, sống chung với nhau, được tự do đi đây đó, sao không biết cảm tạ Thiên Chúa? Sao không biết sống ḥa thuận ấm cúng thương yêu nhau? Sao không biết giúp đỡ nhau, đưa Tin mừng cho những người nghèo khổ, an ủi kẻ đau yếu, tật nguyền?
Xin cho chúng ta biết luôn tạ ơn Chúa trong việc thương giúp những người bé mọn khổ đau.
Cùi hủi là một con bệnh đáng ghê sợ
nhất. Nhiều ngàn năm trước, bệnh phong cùi
đă xuất hiện nơi thân xác của con người.
Đây là một bệnh truyền nhiễm và ô uế. Theo
luật của dân Do-thái, ngay từ thời Môisen đă có những
hướng dẫn riêng dành cho những người bị
bệnh phong cùi. Những người mắc chứng bệnh
phong cùi phải ở riêng, mặc áo rách, để đầu
trần, lấy tay che miệng và la cho mọi người
biết để đừng ai đến gần. Thật
là khổ sổ và đau ḷng! Con vi trùng cùi hủi quái ác
đă ăn cướp mất nhân phẩm của con
người. Thân phận của những người phong
cùi thật đáng thương, họ bị tách ĺa khỏi
gia đ́nh, cộng đoàn và mọi sinh hoạt chung. Họ
bị bỏ rơi và bị người đời khinh bỉ,
xem họ như là những thân xác đáng ghê tởm mà mọi
người cần xa tránh. Người xưa chưa có
cách pḥng bệnh và trị bệnh nên những ai bị mắc
phong cùi th́ như lănh một bản án chung thân.
Nỗi đau thân xác khôn lường, mà nỗi đau của tâm hồn lại càng khốc liệt. Những người phong cùi phải xa tránh mọi người và tự lo cho cuộc sống ḿnh. Họ bị tước mất tư cách làm người và mất cả nhân phẩm. Họ khổ đau quằn quại khi thân xác bị lở loét, cùi cụt và hôi thối. Mọi người không đến gần, ngay cả những người thân thiết trong gia đ́nh cũng không được chung đụng. Chúng ta không thể tưởng tượng được nỗi sầu khổ và mặc cảm lấn chiếm tâm hồn họ. Họ bị rơi xuống đáy vực thẳm của kiếp nhân sinh. Lê lết sầu muộn từng ngày nơi hoang vắng cô quạnh. Đau khổ hơn nữa là khi đối diện với những ánh mắt khinh thị và kinh hăi. Chúng ta nhớ rằng khả năng khoa học y tế của con người thời đó đành bó tay với cùi hủi. Ngày nay vẫn c̣n nhiều người bị nhiễm chứng bệnh phong cùi nhưng nhờ có thuốc thang ngăn ngừa, họ cũng được giảm bớt đau khổ phần nào. Với cuộc sống xă hội đương thời, những người phong cùi cho dù được sự thăm viếng, chia sẻ, thông cảm và ủi an nhưng họ vẫn c̣n phải chịu nhiều sự tủi nhục và sầu khổ.
Chúa Giêsu xuất hiện rao giảng tin mừng giải thoát. Chúa có uy quyền chữa lành cả thân xác và tâm hồn. Hai ngàn năm trước, với khả năng của con người, sự chữa lành của cả hai nhu cầu vật chất và tâm linh đều rơi vào ngơ cụt. Cộng thêm sự phân chia giai cấp và cách đối xử bất công trong xă hội không có lối thoát. Chúa Giêsu đă xuất hiện trong bối cảnh xă hội mà nhiều người bị loại trừ. Sự thực hành đời sống tôn giáo và xă hội thiếu t́nh yêu thương bác ái. Những người bệnh hoạn tật nguyền, phong bại, phong cùi và qủy ám là những thứ bệnh quái ác hoành hành khắp nơi. Tất cả những ai chạy đến với Chúa đều được xót thương chữa lành. Cả những bệnh cùi hủi trong tâm hồn, Chúa Giêsu đă tẩy sạch và tha thứ.
Tâm trạng bị bỏ rơi và chối từ làm cho con người cảm thấy cô đơn sầu khổ. Không chỉ bệnh cùi mà cả những chứng bệnh thời đại. Những người già cả ốm đau bị con cái bỏ rơi. Những trẻ thành niên bị chối từ khỏi gia đ́nh, không được yêu thương và chấp nhận. Những trẻ em sơ sinh bị bỏ rơi v́ bị cha mẹ coi như một món nợ. Những người tàn tật và què quặt không được tiếp nhận vào những đại tiệc của xă hội. Những khách lạ hiền lương bị chối từ nơi ẩn trú. Những người vô gia cư và vô nghề nghiệp không có nơi nương tựa và bị coi như là những kẻ ăn bám xă hội. Những người mắc những chứng bệnh thời đại Si-đa cũng bị xô đẩy vào đường cùng phải sống trong cô đơn và loại bỏ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người sống cần có t́nh yêu, t́nh người và sự chấp nhận.
C̣n biết bao những khinh miệt khác đối với những con người không sống theo kỷ luật bị coi như những tội phạm của xă hội. Những nhóm người gây khủng bố, gian tham, cướp của giết người, buôn bán nô lệ, thuốc phiện, buôn bán t́nh dục phụ nữ trẻ em, những bà tú, ma cô và nhà độc tài gian ác…Chúng ta cũng nên nhớ rằng không phải tất cả các tù nhân đều là tội phạm cả đâu. Có nhiều người bị nhốt tù v́ công lư, v́ bất đồng chính kiến, v́ niềm tin, v́ lương tâm và v́ nhiều lư do khác tùy theo từng chế độ. Xă hội có muôn mặt và muôn cách sống. Chúng ta khó có thể phân biệt trắng đen, lành dữ, xấu tốt và phải trái, khi dựa vào những phán đoán của con người. Tất cả các tệ trạng của con người xă hội đều là những căn bệnh cần phải được chữa trị. Con người phải đi t́m đúng nguồn cội quyền lực để xin ơn chữa lành cả xác lẫn hồn. Chúng ta hăy chạy đến với Chúa Giêsu là nguồn mạch mọi ân sủng chữa lành.
Bệnh nào cũng cần thuốc chữa. Con người có cả ngàn thứ bệnh khác nhau cả về thể xác lẫn tinh thần. Mỗi một thứ bệnh cần có những liều lượng thuốc chữa trị riêng. Chúa Giêsu có toàn quyền trên cả vũ trụ hữu h́nh và vô h́nh. Ngài có quyền sáng tạo, chữa trị, đổi mới và hoàn thành. Câu truyện phúc âm, người bệnh cùi đến van xin Chúa chữa lành, Chúa đă giơ tay đặt trên người đó và nói: Ta muốn, anh hăy khỏi bệnh. Chúa chỉ cần muốn là mọi sự thực hiện theo ư của Ngài. Bệnh cùi được chữa lành ngay tức khắc. Chúng ta nhớ câu truyện của ông Saulô, đang khi đi bách hại người Kitô hữu, một luồng ánh sáng đánh ngă ngựa và Chúa Giêsu đă biến đổi ông thành Phaolô, một tông đồ nhiệt thành rao giảng tin mừng cho dân ngoại. Chúa có thể biến đổi tất cả theo ư muốn của Chúa.
Thánh Phaolô sau khi đă trở lại với Chúa Kitô, ngài đă không ngừng loan báo tin mừng. Trong mọi sự như ăn, như uống hay làm bất cứ việc ǵ, Phaolô khuyên dậy chúng ta hăy làm mọi sự cho sáng danh Chúa. Phaolô đă hoàn toàn thuộc về Chúa. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao Chúa không đánh ngă thêm nhiều người nữa để họ tiếp tục mở rộng Nước Chúa? Biết rằng tư tưởng của Chúa vượt hẳn trên tư tưởng loài người và đường lối của Chúa cao siêu hơn đường lối của con người. Chúa muốn chính mỗi người chúng ta làm nhân chứng cho Chúa. Chúa muốn cứu độ mỗi người bằng chính sự sám hối và trở về của họ. Chúa ban cho con người có tự do để chọn lựa thái độ. Chúng ta hăy đến quỳ gối van xin: Nếu Chúa muốn, Chúa có thể khiến con nên sạch. Đặt niềm tin vào Chúa Kitô và qua Giáo Hội, Chúa đă ban các ân điển qua các Bí Tích, Á Bí Tích, các kinh nguyện và sự thực hành sống đạo sốt mến. Từng bước phát triển đời sống đạo qua các Bí Tích chúng ta lănh nhận, chúng ta sẽ t́m thấy nguồn ơn sủng của sự chữa lành.
Bệnh phong cùi cũng như tội lỗi của con người thật ghê gớm. Ai cũng sợ hăi những chứng bệnh cùi hủi, bệnh siđa, bệnh ung thư hay một số bệnh chết người. Khoa học y tế có phát triển vượt bực nhưng con người vẫn c̣n cảm thấy bất lực hoặc chào thua trước những con bệnh hiểm nghèo này. Một thực tại sống mà chúng ta không thể chối từ. Sinh, lăo, bệnh và tử là lẽ thường ở đời. Điều quan trọng là chúng ta hăy đón nhận thân phận làm người với tất cả những biến chứng của nó. Hăy tôn trọng nhân phẩm, đối xử và đón nhận mọi người như là con người, cùng chung một Cha trên trời. Chúng ta đừng khinh khi loại trừ, ghét bỏ ruồng rẫy và đóng cửa gài then trước những mảnh đời cùng khổ.
Lạy Chúa, đă nhiều lần chúng con ngă bệnh và phạm tội làm nhơ nhuốc tấm linh hồn, xin Chúa giơ tay chữa lành và rửa sạch những vết nhơ bụi trần. Xin cho chúng con biết chia sẻ ḷng nhân ái với những người bất hạnh, biết giơ tay đón tiếp những kẻ cùng khốn và biết chấp nhận mọi người như là anh chị em, để chúng con t́m được nguồn ủi an và chữa lành đích thực của Chúa cả trong tâm hồn lẫn thể xác. Chúng con chỉ biết dâng lên Chúa lời cảm tạ tri ân. Chúng con đă được lănh nhận dư tràn ơn sủng của Chúa trong suốt đời sống. Chúng con cầu xin Chúa.
(Suy niệm của Alphonse Marie Trần B́nh An)
Ngày 20 tháng 9, 1940, Nguyễn Trọng Trí nhập trại phong Quy Ḥa, thời Mẹ Maria Juetta. Sau ba tuần, nhờ sự chăm sóc tận tụy của các nữ tu ḍng Phan Sinh (Franciscaine), bệnh t́nh Trí thuyên giảm.. Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của Trí đều đều như kinh Nhật Tụng: 5 Giờ sáng dậy đi nhà nguyện đọc kinh, sốt sắng dâng lễ, rước lễ. 7 Giờ cùng anh em bệnh nhân dùng điểm tâm cháo trắng với đường tán đen. 8 Giờ được băng bó, uống thuốc hoặc chuyện văn với anh em đồng bệnh. 11 Giờ cơm trưa rồi nghỉ ngơi. 14 giờ 30 Lên nhà nguyện đọc kinh lần hạt đến 17 giờ dùng cơm chiều… Trí là một người rất sùng kính Đức Mẹ Maria, lúc nào cũng cầu xin Đức Mẹ và thứ bảy nào cũng xưng tội.. Suốt hơn một tuần, từ 30 tháng 10, 1940 đến 7 tháng 11, 1940, Trí bị bệnh kiết lỵ nặng nên mất sức! Đêm ngày 8. 11. 1940 Trí lấy hai tập giấy pelure, dùng bút ch́ cùn trong áo veston sáng tác bài thơ cuối cùng La Pureté de l' Âme (Tâm Hồn Thanh Khiết) để ca tụng Đức Maria cùng các bà mẹ dưới đất là thân mẫu và các nữ tu Phan Sinh đă săn sóc Trí. Đây là bút tích cuối đời của Trí. Khi ông Nguyễn Văn Xê đưa Mẹ Nhất Maria Juetta, người Pháp, đọc bài viết này, Mẹ Juetta nói: “Giỏi quá, uổng quá, Hàn Mạc Tử là một thiên tài hiếm có! Nhưng Mẹ xin phép tác giả đổi chữ "nénuphards" (hoa súng) thay cho chữ "lotus" (hoa sen) v́ cuộc đời tu sĩ của chúng tôi tại đây với các bệnh nhân phong, chính là những bông hoa súng lên xuống theo con nước và bập bềnh trôi nổi như mọi vật trong hồ, chứ không dám tự nhận ḿnh như những bông hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Sau 52 ngày được các nữ tu, đặc biệt sơ Julienne và Mẹ Nhất Maria Juetta, tận t́nh săn sóc, cùng một người bạn thân đồng bệnh đồng đạo người Huế, ông Nguyễn Văn Xê, giúp đỡ, nhà thơ tài hoa bạc mệnh Hàn Mạc Tử đă nhẹ nhàng tắt thở lúc 5 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 11, 1940, hưởng dương 28 tuổi. (Lm Trần Quư Thiện, Tưởng niệm nhà thơ Công giáo Hàn Mặc Tử)
Thi sĩ Hàn Mặc Tử đă sống 52 ngày cưối đời thật trong sáng với tinh thần sám hối trở về, hân hoan chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, tán dương Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc qua những vần thơ tuyệt vời. Tin Mừng hôm nay, Thánh Marcô tường thuật Đức Giêsu chữa lành người phong, căn dặn đi tŕnh thầy tư tế và không được tiết lộ. Nhưng khi được chữa lành, anh không thể nín lặng, công khai vui mừng rao truyền và loan tin vui.
Lời cầu xin của anh là gương mẫu cho bất cứ ai thành tâm nguyện cầu, xin Chúa xót thương cứu giúp: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.” Anh hoàn toàn xin vâng theo Thánh Ư Chúa toàn năng, khiến Đức Giêsu chạnh ḷng thương và giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hăy được sạch.”
Vâng phục
“Nếu Ngài muốn,” Với lời khẩn cầu tha thiết, trân trọng Đấng Thiên Sai, anh bệnh phong tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, toàn quyền nắm giữ sinh mệnh, cũng như sức khỏe, hạnh phúc, b́nh an của ḿnh. Lời nguyện xin khiêm hạ này cũng gợi nhớ “Xin Vâng” của Mẹ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói.” (Lc 1, 38)
Người bệnh phong không dám biểu lộ ư riêng của ḿnh, vả lại không thân thưa, th́ Đức Giêsu cũng đă thấu suốt nguyện vọng ấp ủ từ bao lâu rồi. Anh hoàn toàn vâng theo Thánh Ư toàn năng, sẵn sàng chấp thuận Thiên Chúa định đoạt thân phận, không hề oán than. Một đức tin vững chăi qua cơn thử thách thật nặng nề.
Trước cuộc khổ nạn kinh hoàng, Đức Giêsu cũng làm gương sáng chói về đức vâng lời, Người ba lần cầu nguyện: “Cha ơi, nếu được xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ư con, mà xin theo ư Cha. ” (Mt 26, 39-44)
“Chúa Cứu Thế đă cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu của Ngài: “Vâng lời đến chết!” (Đường Hy Vọng, số 395)
Tín thác
“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.” Hoàn toàn tín thác vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa, người bệnh phong công khai tin cậy, trao thân gửi phận cho Đức Giêsu cứu giúp. Người Kitô hữu liệu có luôn xác tín vào Thông điệp Ḷng Chúa Thương Xót, được Chúa Giêsu truyền cho chị nữ tu Faustina Kowalska hay chăng? “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.” Có hoàn toàn vững tin như lời nguyện Hiệp Lễ chăng? “Lạy Chúa, con không đáng rước Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời th́ linh hồn con sẽ lành sạch.”
V́ đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Chúa, người phong không ngần ngại lỗi luật Do Thái, phải chịu cách ly với người lành. Đức Giêsu v́ thương yêu, chí nhân chí ái, cũng vô tư vượt qua điều luật này, khi Người chạnh ḷng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hăy được sạch.”
“Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống. Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đă quả quyết: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10). Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria:”Nguồn hy vọng của chúng con.” (Đường Hy Vọng, số 962)
Tri ân
Được chữa lành, anh quên ngay lời Đức Giêsu căn dặn “đừng nói ǵ với ai cả.” Bởi v́ ḷng anh tràn ngập niềm tri ân, cảm tạ Thiên Chúa. Anh không thể giữ niềm vui, ân huệ cho riêng ḿnh, mà hân hoan công khai chia sẻ với mọi người về hồng ân mới lănh nhận nhưng không.Nên vừa đi khỏi, anh đă rao truyền và loan tin ấy khắp nơi.”
Ḷng Mến tràn đầy của anh đă lan tỏa khắp nơi, khiến dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Đức Giêsu. Niềm tri ân, ḷng cảm mến đă biến anh thành chứng nhân sống động, rao giảng Tin Mừng đến tha nhân. Anh không sở hữu ơn cứu độ cho riêng ḿnh, mà trái lại anh đă thực hiện đúng ba bước như mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đă giải thích. Ngài cho rằng có ba tiêu chuẩn để không không tư nhân hóa sự cứu rỗi: “Đức Tin vào Chúa Giêsu, Đấng thanh tẩy chúng ta, Đức Cậy khích lệ chúng ta nh́n tới những lời hứa và tiến đi về phía trước và Đức Mến là chăm sóc lẫn nhau, khuyến khích tất cả chúng ta thực hành bác ái và các việc lành." (Đồng Nhân, Vietcatholic, ĐTC: Thành phần ưu tú của Giáo hội không được biến đức tin làm của riêng ḿnh)
Lạy Chúa Giêsu, xin cứu thoát chúng con khỏi bệnh phong, khỏi bệnh liệt kháng tâm hồn, xin cứu chúng con khỏi vũng lầy tội lỗi, khỏi thung lũng đầy nước mắt này, xin ban cho chúng con biết sám hối, ăn năn trở về cùng Chúa hằng ngày.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn che chở chúng con khỏi những căn bệnh nan y thời đaị là đánh mất Tin, Cậy, Mến. Xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con thoát khỏi cạm bẫy ba thù, để được Mẹ dắt d́u chúng con theo Chúa luôn. Amen.
(Suy niệm của Alphonse Marie Trần B́nh An)
Chiếc xe buưt Buôn Trấp, ngoại ô thành phố Buôn Mê Thuột tạt vào trạm đón khách. Môt nữ tu nhỏ nhắn Ḍng Nữ Vương Ḥa B́nh nhanh nhẹn bước lên. Người soát vé hỏi đi đâu. Nữ tu nhanh nhẩu đáp: “Làm ơn cho tôi xuống trại cùi E Ana!” Nghe thế, hành khách đang nêm kín trên xe, bỗng nhiên tự động dạt ra, để tránh cho xa nữ tu ấy.
Thấy ghế trống do khách bỏ lại, nữ tu liền nh́n quanh cúi đầu, mỉm cười cám ơn, rồi lặng lẽ ngồi xuống lần hạt. H́nh ảnh đó lâu nay đă trở nên qúa quen thuộc trên tuyến đường này. Thậm chí nhiều khi người soát vé cũng ngần ngại, chẳng dám đến gần, để thu tiền vé của nữ tu đang phục vụ trại cùi ấy!
Ngày nay, mặc dầu y khoa đă chế ngự và chữa trị được bệnh phong hủi, nhưng người ta vẫn không thế thoát được nỗi kinh hoàng về chứng tưởng như nan y ấy. Thế mà từ hơn 2000 năm trước, có người cùi đến gặp Chúa Giê su, anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch, Ngài chạnh ḷng thương, giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch. (Mc 1, 40-42)
Chúa Giêsu thật sự là nhà cánh mạng lỗi lạc tiên phong đối với bênh nhân phong cùi. Sau này, c̣n biết bao vị thánh theo chân Người đến an ủi người cùi, như thánh Phanxicô Assisiô khó khăn, Cha Thánh Đa Miêng, cùng gần đây Đức Tổng Giám Mục Sài G̣n Jean Cassaigne, các tu sĩ phục vụ trại phong …
Hiện nay bệnh cùi thể xác đă có thể điều trị được, nhưng bệnh cùi tâm hồn mới thật sự đáng sợ. Tính bất nhân, vô cảm, gian manh, cùng những điều ác mới chính là chứng bệnh nan y, vô phương cứu chữa, nếu không t́m đến nguồn ơn cứu độ của Đức Kitô. Cứ đơn giản bắt chước thái độ chân thành, tin cậy và quả quyết của người cùi trong Tin Mừng, mà nguyện xin: Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch, chắc chắn không ai phải thất vọng.
Tiếc thay, h́nh như bây giờ người ta dửng dưng với chứng bệnh cùi tâm hồn. Tựa như câu nói dân gian: Cùi không sợ lở! Người ta c̣n thích ung dung sống chung, sống cùng, sống với nó nữa, chẳng hề khiếp đảm hay mắc cở. Nên nào muốn chữa trị tuyệt nọc. Nào muốn sám hối, chạy đến ṭa Ḥa Giải, mà Chúa Giêsu vẫn hằng ṃn mỏi chờ đợi để tha thứ, để chữa trị b́nh phục. Có lẽ Chúa đành chịu bó tay, chỉ biết tiếc thương cho những con bệnh ngoan cố xa lánh Ngài.
Lạy Chúa, xin cho con được thoát khỏi những chứng hư tật xấu vô luân, khỏi những đam mê xác thịt, khỏi những cám dỗ tiền tài, danh vọng, để trở nên sạch sẽ trước nhan thánh Chúa.
Lạy Mẹ mến yêu, xin d́u dắt con thoát khỏi ách nô lệ của bệnh cùi hiện đại, tránh xa những cạm bẫy ba thù, để con hy vọng được sạch sẽ về cùng Mẹ. Amen.
(Trích trong ‘Cùng Nhau Suy Niệm’ – Lm. Giuse Tạ
Duy Tuyền)
Cuộc sống hôm nay rất cần cái đẹp. Cái đẹp cho bản thân như ăn ngon mặc đẹp. Cái đẹp cho tha nhân như một cử chỉ đẹp, một phong cách đẹp, một lời nói làm đẹp ḷng người. Nhà văn Tolstoy đă kể lại một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời ông như sau: Một hôm, ông đang ngồi nghỉ mát trên ghế đá công viên, từ xa có một người quần áo rách nát tả tơi đến gần và ngả mũ xin ông giúp đỡ. Thấy cảnh cơ cực, nhà văn liền tḥ tay vào túi định lấy tiền giúp cho người hành khất. Thế nhưng, ông đưa tay t́m hết túi này đến túi kia cũng không kiếm được một đồng nào trong túi. Bấy giờ ông nh́n người ăn xin và nói trong sự hối tiếc: “Này người anh em! Xin thứ lỗi cho tôi. Rất tiếc là hôm nay tôi không mang theo một đồng nào trong túi”. Nghe lời nói chân t́nh đó, người ăn xin không buồn mà c̣n nở nụ cười rạng rỡ trên môi và nói: “Không đâu thưa ông. Hôm nay ông đă cho tôi một món quà quư báu c̣n hơn cả tiền bạc. Đó là ông đă không khinh dể tôi mà c̣n coi tôi như người anh em của ông”.
Bài Phúc âm hôm nay, thánh Marcô cũng tường thuật lại một cử chỉ đẹp mà Chúa Giêsu đă dành cho người bệnh phong hủi nan y. Ngài đưa tay chạm vào thân thể lở loét của anh. Một thân thể hôi hám và dơ bẩn mà người đời đă xa tránh. Hành động này không chỉ nhằm mục đích chữa bệnh cho anh mà c̣n xoa dịu nỗi đau trong ḷng của anh. Anh bị người đời khinh chê. Anh bị xă hội loại trừ. Người đời xếp anh vào hàng tội nhân bị Thiên Chúa giáng hoạ. Khi chạm đến thân thể anh, Chúa Giêsu cũng chạm đến tâm hồn anh. Anh được chữa lành cả hồn lẫn xác. Thân xác anh khoẻ mạnh. Danh dự của anh cũng được phục hồi. Tâm hồn anh cũng b́nh an và tươi vui. Từ nay anh không bị người đời xa lánh, khinh chê. Từ nay anh không c̣n tủi hổ v́ phận số bất hạnh của ḿnh. Qua Chúa Giêsu, anh được cộng đồng đón nhận. Nhờ Chúa Giêsu, anh được xă hội nh́n nhận. Xă hội không c̣n lư do để khinh chê hay loại bỏ anh ra bên lề xă hội. Giờ đây anh có thể sống tươi vui như bao con người khác trong xă hội. Anh không c̣n mặc cảm về bệnh tật. Anh không c̣n mặc cảm bị khinh chê. Anh được quyền sống như bao con người khác, được tôn trọng và yêu thương.
Có ai đó đă từng nói rằng: “một lời nói hay không bằng một cử chỉ đẹp”. Cuộc sống sẽ hạnh phúc hơn khi mỗi người biết làm đẹp ḷng nhau. Cuộc sống sẽ bớt đi những tủi hờn, những cô đơn và thất vọng nếu chúng ta biết sống đẹp với nhau. Đừng chơi xấu, đừng loại trừ nhau, nhưng hăy đón nhận nhau. Cuộc sống sẽ vơi đi những nỗi sầu khổ đắng cay nếu mỗi người chúng ta biết đối xử đẹp với nhau.
Thế nhưng, giữa cuộc đời hôm nay vẫn c̣n đó những lối sống tiểu nhân tầm thường, nên vẫn c̣n đó những oan ức, những giọt nước mắt đắng cay v́ t́nh người phụ bạc, v́ t́nh đời thay trắng đổi đen. Cuộc sống hôm nay vẫn c̣n đó những lối sống kém văn hoá, những cư xử thấp hèn nên vẫn c̣n đó những ứng xử thô lỗ, cộc cằn, những hành vi phi nhân và bất nghĩa.
Ước ǵ mỗi người chúng ta hăy can đảm loại bỏ những hành vi thô lỗ, cộc cằn, những hành xử thiếu văn hoá khởi đi từ chính gia đ́nh chúng ta. Mỗi thành viên trong gia đ́nh hăy biết dâng tặng cho nhau những cử chỉ đẹp như: sự quan tâm, sự khiêm tốn, ôn hoà và hiền hậu với nhau. Chúng ta không thể “khôn nhà dại chợ”, sống tốt với hàng xóm mà cư xử tệ với anh em. Chúng ta không thể sống trọn vẹn đức ái Kitô giáo nếu chúng ta không yêu mến gia đ́nh chúng ta. Đức ái luôn mời gọi chúng ta phục vụ nhau một cách quảng đại, hy sinh và quên ḿnh. Đức ái mời gọi chúng ta sống khiêm nhu, hiền lành và nhẫn nại với nhau. Đức ái bao hàm sự bao dung và đón nhận nhau trong yêu thương và tha thứ. Đức ái không cho phép chúng ta loại trừ hay tẩy chay nhau. Đức ái mời gọi chúng ta dâng tặng cho nhau những nghĩa cử yêu thương làm đẹp ḷng nhau.
Chúa Giêsu năm xưa đă đưa tay chạm đến người bệnh để chữa lành cho anh. Ngài có thể phán một lời th́ con người anh có thể lành lặn. Thế nhưng, Chúa đă sử dụng đôi tay để trao ban t́nh yêu và sự quan tâm tŕu mến dành cho anh. Phải chăng, Ngài cũng muốn chúng ta hăy tiếp tục trao ban cho nhau những nghĩa cử yêu thương nồng ấm t́nh người? Ước ǵ từng người chúng ta hăy biết dâng tặng cho nhau những nghĩa cử yêu thương, những lời nói dịu dàng, những hành vi bác ái và vị tha. Ước ǵ lối sống đẹp của chúng ta sẽ là dấu chỉ chứng nhân tin mừng cho thế giới hôm nay. Amen.
(Suy niệm của An Phong, OP)
Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu chữa lành cho một người phong cùi. Người đă bộc lộ dung mạo của một vị Thiên Chúa vượt lên trên tất cả mọi phong tục, tập quán, lề luật, định chế xă hội… Bởi một lẽ duy nhất là vị Thiên Chúa của Tin mừng là vị Thiên Chúa dám nghĩ, dám làm, dám sống.
Sách Lê vi, chương 13, câu 45-46 có viết: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xơa tóc, che râu ria và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’. Bao lâu c̣n mắc bệnh, th́ nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại”. Theo sách Talmud - Babilon, họ đi vào nhà nào là mang ô uế vào nhà đó. Bất cứ ai chạm đến họ đều bị coi là ô uế. Họ là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giêrusalem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn pḥng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người đă chết.
Người phong cùi trong Tin mừng hôm nay đă dám “đến gặp Chúa Giêsu, qú xuống, van xin…”. Đức Giêsu “chạnh ḷng thương, giơ tay đụng vào anh…”. Cả hai hành vi, người cùi đến gặp Chúa và Chúa đưa tay chạm đến họ, đều là những hành vi “liều mạng”, vượt trên mọi thể chế, phong tục… b́nh thường.
* Người phong cùi hẳn là biết rơ việc ḿnh làm. Anh biết thân phận ḿnh, biết những qui định ngặt nghèo là không được đến gần người khác. Anh chẳng màng đến những qui định này. Hẳn là anh không ghê tởm con người ḿnh và cũng không sợ phán quyết khắc nghiệt của Đức Giêsu. Anh biết Người là Đấng nhân từ và bao dung. Nếu ghê tởm chính ḿnh, hẳn là anh đă trốn biệt. Nếu sợ phán quyết khắc nghiệt, hẳn là anh đă không dám đến gần Đức Giêsu và van xin Người chữa lành. Anh đă liều và đă đạt được điều ḿnh mong muốn.
* Đức Giêsu, một Rabbi Do Thái chắc chắn là biết rơ điều luật “cấm không được đến gần người cùi trong khoảng cách một sải tay”. Nhưng Người đă không màng đến những qui định như thế. Người tự do và thoải mái hành động v́ hạnh phúc con người. Người đă phá đổ những qui định phi nhân bản - loại trừ một con người đau khổ. Đức Giêsu thực là h́nh ảnh một vị Thiên Chúa cúi ḿnh xuống với nỗi khổ đau của con người. Người đă cúi ḿnh thật sâu (kenosis) trong biến cố làm người và trong cái chết trên thập giá. Người cúi xuống để nâng con người lên, miễn là con người nhận ra chính ḿnh và cầu xin ơn cứu độ.
Ngày nay, căn bệnh cùi thể lư đă bị tiến bộ y khoa đẩy lui, nhưng vẫn c̣n đó những bệnh cùi tâm linh, như tệ nạn xă hội: si đa, x́ ke, ma túy, mọi h́nh thức vô nhân… và thường bị những người chung quanh khinh bỉ. Cùng với Đức Giêsu, người kitô hữu được kêu gọi thể hiện sự thông cảm, quan tâm đối với những người bất hạnh. Cùng với Đức Giêsu, người kitô hữu được kêu gọi để dám vượt qua những định chế, tập tục vô nhân.
Lạy Chúa Giêsu,
xin dạy cho chúng con
biết cúi ḿnh xuống với những mảnh đời đau khổ, bất hạnh
để cảm thông và chia sẻ,
v́ chính chúng con cũng đă được Chúa cảm thông và chia sẻ.
Xin cho chúng con
dám vượt qua con người của ḿnh, như người phong hủi,
để đến và khẩn cầu với Chúa.
Một khi đă tin vào Đức Giêsu nhờ
lời rao giảng, các tín hữu tiên khởi tiếp tục
t́m hiểu về Đức Giêsu qua những ǵ các tông đồ
kể lại, và phần lớn những điều này
được ghi lại nơi các sách Tin Mừng. Niềm
tin vào Đức Giêsu làm thay đổi cuộc đời
tín hữu, khi họ nhận ra Thiên Chúa hằng yêu
thương họ, một cách rất đặc biệt
qua Đức Giêsu.
1) Tội c̣n khủng khiếp hơn bệnh phong cùi nhiều
Ngày nay với tiến bộ của y khoa, người ta đă chế ngự được bệnh phong. Bệnh phong ngày nay cũng chỉ là một bệnh như bao bệnh khác. Ngày nay người ta hay có thái độ xa cách đối với những người mắc bệnh hư miễn nhiễm (HIV, AIDS) như ngày xưa người ta đă có đối với những người mắc bệnh phong cùi. Kitô hữu tuy phải khôn ngoan để không bị lây nhiễm, nhưng không được có thái độ thiếu bác ái trong cách cư xử đối với những người anh chị em bị mắc những bệnh này.
Ngày xưa khi chưa khắc phục được bệnh phong cùi, th́ bệnh này là một nỗi kinh hoàng cho những người bị nhiễm và cho cả những thân nhân của người bệnh nữa. V́ là bệnh truyền nhiễm nên người ta đă phải có biện pháp để bảo vệ những người khác cho khỏi bị lây nhiễm, nghĩa là, bảo vệ xă hội khỏi bị tiêu diệt, v́ thế thậm chí đôi khi người ta áp dụng những biện pháp rất khắc nghiệt. Người bệnh phải sống tách biệt với người khác, kể cả những người thân thuộc như vợ chồng con cái. Dù rất yêu nhau, họ cũng phải sống xa cách, và không được phép lại gần nhau; điều này áp dụng không chỉ với hai người nam nữ yêu nhau, nhưng cả đối với người mẹ và người con c̣n thơ dại.
Mọi tật bệnh và đặc biệt bệnh phong cùi, theo quan điểm của người Do Thái, là hậu quả của tội. Qua cái ǵ cụ thể hữu h́nh là bệnh, người ta thấy nơi tội một cái ǵ tương tự như bệnh phong cùi gây cho con người. Tội là thái độ hận thù ghen ghét anh chị em ḿnh và không sống như con Thiên Chúa. Tội làm người ta xa nhau, làm người ta bị cô lập với cộng đoàn, làm người ta mất b́nh an mất vui và không được hạnh phúc.
2) Đức Giêsu- dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện
Nếu đặt ḿnh vào trường hợp và tâm trạng của anh bị bệnh phong được Đức Giêsu chữa lành hôm nay, người ta sẽ thấy anh ta mong ước được khỏi bệnh “khủng khiếp” này đến độ nào. Ao ước này đặc biệt rất mănh liệt nếu anh ta có vợ và con thơ yêu dấu. Ai có thể giúp anh ta được? Đức Giêsu xuất hiện như niềm hy vọng của anh ta. Anh ta đă qùy xuống nài xin Đức Giêsu! “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi!”
Làm sao anh ta có thể tin Đức Giêsu như vậy? Qua cách sống, lời giảng dạy, và những dấu lạ Đức Giêsu làm, người ta tin vào Đức Giêsu hơn. Xưa tiên tri Elisa cũng đă chữa viên quan Naaman của Syria, một người bị bệnh cùi chỉ bằng lời truyền cho ông đi tắm bảy lần ở sông Yordan (2V.5, 1-27); bây giờ, nếu Thiên Chúa muốn, nếu vị tiên tri Giêsu này muốn, th́ Ngài cũng có thể làm như tiên tri Elisa đă làm chứ. Đức tin của người bệnh phong cùi này phản ảnh đức tin của con người thời đó đối với Đức Giêsu; hơn nữa, qua anh ta người ta nhận ra Thiên Chúa đang tác động nơi anh ta, làm anh ta tin tưởng tuyệt đối vào Đức Giêsu.
Đức Giêsu đă xúc động và thương anh ta thật sự. Ngài đọc được nỗi khổ của người bị bệnh phong cùi này. Ngài thấy được khao khát của anh ta qua việc anh qùy gối trước Ngài để nài xin ân huệ được khỏi bệnh. Đức Giêsu đă đưa tay ra, chạm vào anh và nói: “dĩ nhiên là tôi muốn, anh hăy lành đi.” Đức Giêsu thương anh ta, và qua anh ta, thương tất cả con người đang đau khổ bệnh tật. Đức Giêsu thương con người, Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa không muốn con người khổ năo, Ngài muốn con người b́nh an và hạnh phúc. Đức Giêsu là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện để yêu thương, để chữa lành và nối kết con người lại với nhau và với Thiên Chúa.
3) Đức Giêsu không chỉ là một con người
Tại sao Đức Giêsu không chữa tất cả những người bị bệnh phong cùi thời đó? Tại sao Đức Giêsu không chữa lành tất cả mọi bệnh tật của con người? Tại sao Đức Giêsu không biến đổi tất cả để làm con người đừng thù ghét nhau nữa nhưng luôn yêu thương và giúp đỡ nhau? Đức Giêsu là một người như tất cả mọi người, nên Ngài không thể làm được điều đó. Nếu Ngài làm được điều đó, người ta sẽ nói Ngài không là người thật v́ Ngài không chia sẻ nỗi bất lực trước nỗi khổ của con người. Ngài là người, Ngài bất lực và thậm chỉ không biết cả tương lai nữa. Những ǵ con người không biết và không làm được, mà Ngài biết và làm được, th́ đó là ơn huệ và là dấu chỉ Thiên Chúa ban để giúp con người nhận biết chân tướng của Ngài mà thôi.
Đức Giêsu chữa người bị bệnh phong cùi không bằng cách như tiên tri Elisa đă làm đối với Naaman, viên quan của Syria, nhưng bằng một lời: “tôi muốn chứ, anh khỏi đi.” Cách chữa bệnh bằng lời của Đức Giêsu, cho người ta biết hơn về chân tính của Ngài. Ngài có uy quyền, trổi vượt hơn cả các tiên tri trước, kể cả Môsê. Thời Môsê, mấy người chống đối ông bị phạt mắc bệnh phong cùi; những người này đă hoảng sợ và xin ông Môsê cầu khẩn Thiên Chúa tha thứ cho họ; ông Môsê đă xin Chúa, và Chúa đă cho họ được khỏi. Đức Giêsu đă không chữa người bị bệnh này như vậy; Ngài làm như thể Ngài có quyền chữa bệnh vậy, và cách nói của Ngài làm người ta hiểu như thể quyền đó từ Ngài mà ra.
Qua cách tŕnh bày của Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu là người rất đặc biệt. Ngài thương yêu con người, rung động trước nỗi khổ của con người, Ngài yêu thương và chữa lành con người, giúp họ trở lại với cộng đoàn con người, trở lại với người thân yêu và nhận ra Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương họ. Đức Giêsu c̣n là một người trổi vượt hơn những người khác, hơn các tiên tri nổi tiếng ngày xưa là Elisa và Môsê. Như thể tự Ngài, Ngài có quyền chữa lành bệnh tật. Ngài là người, và hơn là một con người. Ngài là Đấng “từ trên.”
Câu hỏi gợi ư chia sẻ
1. Với cách hành xử của Đức Giêsu hôm nay, bạn được đánh động ở điểm nào? Xin chia sẻ?
2. Thánh Phaolô viết: “vậy dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc ǵ, anh em hăy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr. 10, 31). Bạn có thể làm được điều này không? bằng cách nào?
(Suy niệm của John W. Martens - Lm GB. Văn
Hào chuyển ngữ)
Vừa đi khỏi, anh đă bắt đầu rao truyền và loan tin ấy khắp nơi (Mc 1,45)
Trong tác phẩm “Bàn về sự nhiễm uế và tội lỗi trong nền văn hóa Do Thái cổ đại”, tác giả Jonathan Klawans đă nêu ra sự khác biệt giữa sự nhiễm uế do tội lỗi, và sự nhiễm uế do tập tục. Sự nhơ uế mang tính luân lư gồm những tội như ngoại t́nh và giết người, hàm ngậm những hành vi tội lỗi và dơ bẩn. C̣n sự nhơ uế do phong hóa mang tính tập tục bao gồm những tiến t́nh tự nhiên, như việc sinh nở, hành vi giao phối vợ chồng, chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ v..v.. Những quy tŕnh tự nhiên này không liên quan ǵ đến hành vi tội lỗi cả. Bệnh phong hủi, là một trong những bệnh ngoài da vẫn được người ta xem như một thứ nhơ uế, nhưng chỉ mang tính phong hóa theo tập tục thời bấy giờ mà thôi.
Cho dù một người mắc bệnh ngoài da, như những người bệnh phong, sẽ không bị kết án là có tội, nhưng theo sách Lêvi “ người đó vẫn bị coi là nhơ uế bao lâu c̣n mang bệnh tật trong người. Họ phải sống một ḿnh, tách khỏi lều trại nơi cộng đồng sinh sống (Lv 13,45-46)”. Nhiều người nhiễm bệnh phong hủi c̣n bị cắt đứt sự tương giao hoàn toàn, cả về mặt xă hội và cả trong đời sống tôn giáo. Những sự nhiễm uế khác theo tập tục, như sinh nở, kinh nguyệt, chỉ kéo dài một thời gian ngắn, thường một ngày hay một tuần, nhưng cách riêng nhiễm uế do bệnh cùi có thể trở thành vĩnh viễn suốt cả một đời người.
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi một người phong hủi đi t́m kiếm và đến gặp Đức Giêsu. Anh ta nài xin Ngài giúp anh ta trở lại ḥa nhập với cộng đồng. Qùy gối trước mặt Đức Giêsu, anh ta khẩn xin tha thiết với một ước muốn giản đơn “ Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Mặc dù bệnh nhân không nài ép Chúa với một cung điệu ai oán và trang trọng, nhưng anh ta bày tỏ mong ước với một động thái xác quyết và tin tưởng, v́ “ Ngài có thể làm việc này”. Đây là một thái độ biểu tỏ đức tin. Anh ta tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Đức Giêsu và tín thác nơi ḷng trắc ẩn của Ngài.
Đức Giêsu chạnh ḷng thương đối với bệnh nhân. Marcô sử dụng hạn từ Splanchnizomai trong tiếng Hy lạp, diễn tả một t́nh cảm sâu xa, một sự thương cảm và yêu thương dạt dào. Trái tim của Đức Giêsu đă lay động trước hoàn cảnh bi thương của người bệnh và Ngài giơ tay chạm vào anh ta. “Ngài nói: Tôi muốn, anh hăy được sạch. Lập tức bệnh phong hủi biến mất và anh ta được lành sạch (Mc 1,42)”. Khi chạm vào người cùi, Đức Giêsu có làm điều ǵ sai trái không? Chắc chắn không và tuyệt đối không. Cho dù bệnh cùi là căn bệnh lây lan, và luật Do Thái vẫn coi sự sờ chạm đến bệnh nhân là một sự nhiễm uế, nhưng sự nhiễm uế này hoàn toàn không phải do tội lỗi. Khi Đức Giêsu chạm đến người cùi để chữa lành cho anh ta, có thể đó là một hành vi phản khoa học, khiến dễ bị lây nhiễm, nhưng tuyệt đối nơi Ngài không thể có sự nhiễm uế. Động thái này có nghĩa là ǵ? Chúng ta thấy Đức Giêsu vẫn cẩn thận tuân thủ lề luật và Ngài không tỏ ra khinh suất lề luật chút nào.
Sau khi bệnh nhân đă hoàn toàn được lành lặn, Đức Giêsu nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay và c̣n căn dặn kỹ lưỡng “ Đừng nói ǵ với ai cả, nhưng hăy đi tŕnh diện tư tế và v́ anh đă được lành sạch, th́ hăy dâng những ǵ Môsê đă truyền để làm chứng cho người ta biết (Mc 1,44). Sự đồng cảm của Đức Giêsu được thể hiện không phải bằng một cái ôm hôn thắm thiết để chúc mừng anh ta, v́ anh được trở lại ḥa nhập với cộng đồng. Nhưng, Ngài nói với người được chữa lành là hăy đi thực hành những ǵ mà luật Môsê dạy bảo, như đă viết trong sách Lêvi 14,1-32. Bệnh nhân sau khi được lành bệnh, phải thực hiện điều luật, để được đón nhận trở lại hội nhập với cộng đồng. Vị tư tế sẽ c̣n phải kiểm tra, như sách Lêvi đă dạy, và sự kiểm tra này kéo dài suốt cả tuần lễ. Anh ta đang trên đường để tái ḥa nhập, và lúc Đức Giêsu chữa lành cho anh ta, anh ta vẫn chưa có thể trở lại với cộng đồng một cách hoàn toàn lúc bấy giờ.
Nhưng tại sao Đức Giêsu lại nghiêm giọng bảo anh ta đừng nói ǵ cho ai biết? Có phải thực sự Đức Giêsu mong muốn người bệnh đă được chữa lành phải câm lặng tuyệt đối hay không? Có phải bệnh nhân sau khi được lành sạch sẽ không nói cho vị tư tế biết ai đă chữa lành cho ḿnh?
Sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu là mời gọi mọi người tiến vào Vương quốc Nước Trời, thế th́ tại sao Ngài lại nghiêm cấm người vừa được chữa lành do quyền năng của Ngài lại phải câm nín? Người được Đức Giêsu cứu chữa chắc chắn không thể im miệng được. Anh ta ra đi và bắt đầu công bố cho mọi người, quảng bá rộng khắp tin vui mà ḿnh mới được lănh nhận. V́ vậy số người đến t́m gặp Đức Giêsu ngày càng đông đến mức độ Ngài không thể công khai vào thành nào, mà chỉ có thể ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành (Mc 1,45).
Dường như có sự mâu thuẫn và đối kháng giữa chỉ thị của Đức Giêsu cấm người bệnh đừng nói ǵ với ai, với sứ mệnh quảng bá Vương quốc Nước Trời. Trong Tin mừng Marcô, chúng ta thấy nhiều lần Đức Giêsu đă nói như vậy. Các học giả kinh thánh gọi đó là “Bí mật Thiên Sai”. Một đàng, Đức Giêsu mời gọi mọi người hăy bước theo Ngài và Ngài đă chữa lành các bệnh nhân một cách công khai, một đàng lại có vẻ như Ngài muốn bịt miệng các chứng nhân, cấm họ nói bất kỳ điều ǵ. Có phải đây là một sự đánh đố mang tính tâm lư mà Đức Giêsu khởi xướng, hay chỉ là một kỹ xảo chơi chữ theo kiểu văn chương mà Marcô đă sử dụng?
Các học giả cho chúng ta thấy thái độ phản ứng của bệnh nhân được chữa lành nói lên câu trả lời cho vấn nạn này. Niềm vui Tin Mừng vọt trào nơi tâm hồn những con người mà Đức Giêsu đă sờ chạm đến, phải được công bố và được nhân rộng. Niềm vui đó cần được sẻ chia, cần được quảng bá rộng khắp cho mọi người. Người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay đă chu toàn những ǵ lề luật đ̣i hỏi, nhưng anh ta biết rằng ḿnh không thể câm lặng, ôm giữ cho riêng ḿnh niềm vui sung măn và ngập tràn đó. Sau khi đă trải nghiệm sự vui mừng lớn lao v́ được thụ lănh quyền năng chữa lành của Đức Giêsu, anh ta ra đi và nói cho mọi người biết. Đây là h́nh mẫu và là chân dung của một nhà truyền giáo đích thực, mà mỗi người chúng ta cần phải sao chép.
“Người chạnh ḷng thương,
giơ tay đụng vào anh và bảo…”
Kể từ cái trải nghiệm nhỏ bé nhận được trong khóa học BISA VIII tại Bangkok - Thái Lan đúng vào mấy ngày Tết Nhâm Th́n, tôi đă có một cái nh́n rất khác về ‘phép lạ’ Đức Giêsu chữa người bị phong hủi.
BISA (Bishops’ Institute for Social Action) là khóa học dành cho các giám mục Á Châu về các đề tài liên quan tới phát triển con người theo Học Thuyết Xă Hội của Giáo Hội do OHD (Office of Human Development) thuộc FABC (Federation of Asian Bishops’ Conferences) tổ chức. Khóa VIII na7m đó có sự tham dự của khoảng 30 giám mục, 10 đại biểu linh mục, giáo dân đại diện cho 18 Hội Đồng Giám Mục và 06 tổ chức quốc tế. Tôi được mời tham dự trong tư cách đại diện cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam v́ đề tài học tập liên quan đến các di dân và thổ dân. Khóa học được chia làm hai phần, bốn ngày dành cho chương tŕnhthực nghiệm (immersion program) và bốn ngày cho hội nghị thuyết tŕnh và thảo luận. Trong phần thực nghiệm, các tham dự viên được chia thành từng nhóm 4-5 người đi thực tế trong một môi trường xă hội cụ thể. Nhóm tôi gồm 04 người, trong đó có 02 giám mục, đi làm việc tại một trung tâm PCU-AIDS (Palliative Care Unit for AIDS Patient Center) tại tỉnh Sayong miền đông nam Bangkok - Thái Lan, gần biên giới Kampuchia. Công việc của chúng tôi là cùng với các y công và y tá của trung tâm chăm sóc các bệnh nhân AIDS đang trong giai đoạn cuối. Một trong các công việc tôi được trao là thay tă (tampers) và chùi rửa các bệnh nhân AIDS hoàn toàn bại liệt.
Việc phục vụ và đụng chạm trực tiếp tới những con người này (một thứ phong hủi ghê tởm hiện đại?) trong trạng thái dơ bẩn nhất của thân xác họ, đă để lại nơi tôi một ấn tượng khó quên; mọi cảm xúc tự nhiên trong ḿnh như muốn nổi loạn, buộc tôi phải gồng ḿnh kiềm chế. Cảm nghĩ lóe lên nhiều lần trong đầu tôi lúc đó chính là: “Ôi t́nh yêu nhập thể, khủng khiệp quá!” Phải, Thiên Chúa trong mầu nhiệm nhập thể đă đụng chạm trực tiếp tới t́nh trạng kinh tởm dơ dáy tột cùng của thể xác, nhất là của tinh thần con người (trường hợp Người giơ tay đụng vào người mắc bệnh phong cùi ghê tởm ở đây chỉ là một chút điển h́nh!). Và Người làm hành đông này không có bất kỳ một thiết bị bảo hộ nào như tôi lúc đó, nào là khẩu trang, bao tay cao su, nào là các thiết bị y tế, nước sát trùng… và cả các tấm tă cực kỳ tiện lợi. Điều duy nhất mà Người được trang bị và sở đắc tới độ siêu đẳng (đồng thời cũng chính là điều tôi hoàn toàn thiếu thốn) đó là ‘Người chạnh ḷng thương’! Thế đấy, t́nh yêu nhập thể thực quá cụ thể và chạm tới những ngơ ngách cùng tận và tăm tối nhất của kiếp người. Điều mà Đức Giêsu đă làm với người phong hủi xưa, Người sẽ c̣n tiếp tục làm măi với từng con người nhân loại chúng ta, đặc biệt những ai cùng khổ bất hạnh, bệnh tật kinh tởm nhất, cả về mặt thể lư lẫn luân lư; bất cứ ai Người cũng chạm tới được miễn là họ biết ‘quỳ xuống và van xin…’ như người phong hủi xưa.
Và cũng từ trải nghiệm này tôi c̣n được học thêm một điều nữa, đó là việc chữa lành (hay phép lạ) không phải là điều quan trọng và cần nhấn mạnh nhất. Khi phục vụ tại CPU-AIDS tôi được cho biết, bệnh nhân nào t́m lại được ư chí muốn sống, người đó mới có cơ may kéo dài cuộc sống, ngược lại bệnh nhân sẽ tàn lụi vô phương cứu chữa. Tác động lớn nhất trong việc điều dưỡng không phải là thuốc men hay phương tiện y tế, mà chính là trả lại cho bệnh nhân niềm tin và hy vọng. Tôi đă thấy vài trường hợp điển h́nh ngay nơi các bệnh nhân AIDS mà tôi phục vụ (thay tă, đút cơm hay nắn bóp), một số họ đă bắt đầu tỏ ra có các dấu hiệu hồi phục rơ ràng. Một bệnh nhân AIDS-TB (lao phổi) nặng, bị mọi người xa tránh v́ dễ lây nhiễm và nhầy nhụa, nhưng khi được tôi ân cần đút cơm và tṛ truyện, anh đă nở được nụ cười thật tươi sau nhiều ngày vật vă… Và bác sĩ cho biết, bệnh t́nh của anh đă có dấu hiệu khả quan hơn.
Thế đấy, tác giả Mác-cô viết: ‘Người chạnh ḷng thương, giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch…’ ôi sao mà xác thực quá! ‘Chạnh ḷng thương’ c̣n quan trọng hơn nhiều việc Đức Giêsu lấy quyền năng mà làm phép lạ… Nói cách khác, chính ‘chạnh ḷng thương’ mới là phép lạ lớn hơn hết v́ nó đáp ứng trực tiếp nỗi khát vọng thâm sâu nhất của bệnh nhân phong hủi này, khi anh ta thoát khỏi t́nh trạng bị mọi người hắt hủi, và kể từ lúc đó chứng phong hủi của anh khởi sự tiến tŕnh hoàn toàn biến mất.
Ôi, sức mạnh của ḷng thương xót thật vô song, và mong sao mọi linh mục của Đức Kitô không những hiểu được điều này mà c̣n tham gia tích cực vào quyền năng này nữa!
Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết cảm tạ Chúa không ngừng, không phải v́ các phép lạ hoặc các ơn trọng đại con nhận được, nhưng v́ đă biết tín thác vào ḷng Chúa xót thương. Cho dầu không thể sửa trị được hết các yếu đuối phần hồn phần xác (sẽ không bao giờ, với bất cứ ai!), con vẫn mừng vui khôn xiết v́ Chúa đă chạnh thương chạm tới sự ghê tởm, thấp hèn và tội lỗi của con, qua đó trả lại cho con niềm hy vọng tràn trề và một sức sống bất tận. Amen.
(Trích trong “Như Thầy Đă Yêu”)
Một vụ nổ đă làm cho chú bé bảy tuổi vị bỏng nặng ở đôi chân, đến nỗi các bác sĩ đă nghĩ rằng cần phải cưa chúng. Người ta nói với mẹ cậu: “Thằng Glenn của chị sắp thành kẻ tàn phế suốt đời đấy”.
Thế mà hai năm sau, với niềm tự tin mạnh mẽ, cậu đă rời bỏ cặp nạng, chẳng những đi bộ mà cậu c̣n chạy được nữa. Dù chạy không nhanh lắm, nhưng vẫn chạy được.
Cuối cùng, cậu thi đậu đại học. Môn ngoại khôn của cậu là chạy đua. Quả thật, cậu đă làm cho mọi người phải kinh ngạc. Cậu lần lượt phá kỷ lục ở liên đại học.
Tại đại hội Olympic Berlin, chẳng những cậu được đánh giá là vận động viên xuất sắc môn chạy 1500 mét, mà cậu c̣n phá kỷ lục Olympic về môn này.
***
Với niềm tin vào khả năng của chính ḿnh, cậu bé tưởng chừng như một phế nhân, đă trở thành vận động viên chạy nhanh nhất thế giới. Với niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa, người phong cùi tưởng chừng như suốt đời sống trong căn bệnh ghê tởm nhất, đă trở nên lành sạch.
Đối với người Do thái, kẻ mắc bệnh phong cùi bị coi như Thiên Chúa chúc dữ và xă hội loại bỏ. Không được tham dự nghi lễ trong hội đường. Họ là thành phần tội lỗi, phải sống thành từng nhóm nơi mồ mả, phải la lên “ô uế” để mọi người tránh xa. Ai tṛ chuyện với họ là phạm luật. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, người phong cùi đă hết ḷng tin tưởng quyền năng của Đức Giêsu, nên anh đă quỳ xuống van xin: “Nếu Người muốn, Người có thể khiến tôi nên sạch” (Mc 1,40).
Thấy ḷng tin của anh, Đức Giêsu động ḷng thương, giơ tay đặt trên người ấy và nói: “Ta muốn, anh hăy khỏi bệnh” (Mc 1,41). Chạm đến người phong cùi, Đức Giêsu đă phạm luật, khiến người ta khó chịu. Người muốn thay đổi những lệch lạc trong luật. Qua việc đặt tay của Đức Giêsu, con người được tiếp xúc thần tính của Người, nhờ đó được nhận lănh ân sủng là sức sống của Người. Chính v́ thế mà bệnh phong biến mất và anh ta được sạch.
M. Carré có nói: “Sống trong một thế giới đầy đau khổ trước mắt, th́ chúng ta phải là những nhà chuyên môn của niềm tin tưởng cậy trông”. Vâng, trong lúc đau đớn tột cùng nơi thân xác v́ bị vi trùng Hansen gặm nhắm rúc rỉa; trong lúc tâm hồn tan nát v́ bị mọi người kinh tởm xa cách. Chính trong lúc đau khổ ngút ngàn ấy, người phong cùi lại hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa và trọn vẹn phó thác cho t́nh yêu của Người.
V́ thế, Đức Giêsu chỉ c̣n biết rộng răi trao ban t́nh yêu của Người, để làm phát sinh một hiệu quả vô cùng diệu kỳ là cho anh lành sạch cả thế xác lẫn tâm hồn. G. Bossis viết: “Hăy tin và tin nhiều hơn nữa cho đến khi xảy ra p hép lạ”.
Bí quyết trở nên hgùng cường của nước Mỹ được in trên đồng tiền của họ, đó là câu: “In God We trust” (chúng tôi tin vào Thiên Chúa). Thánh Phanxicô Salesio nói: “Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta c̣n gắn chặt vào Thiên Chúa”.
Lạy Chúa, trong cơn đau khổ cùng quẫn, chúng con vẫn tin tưởng nơi Người, chỉ một ḿnh Người thôi. Trong bóng đêm cô đơn trống vắng, chúng con vẫn cậy trông nơi Người; tất cả nơi Người.
Xin cho chúng con nhận ra quyền năng và t́nh yêu của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin thương chữa lành mọi bệnh tật xác hồn chúng con. Amen.
(Suy niệm của Lm Nguyễn Hữu Thy)
Một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người, đó là tính hợp quần, tính đoàn thể: Bất cứ con người nào cũng đều mang trong ḿnh nhu cầu muốn được giao lưu với người khác, muốn được thuộc về một gia đ́nh, muốn được thuộc về một đoàn thể hay một cộng đồng.
V́ thế, sự đau khổ lớn nhất của một bệnh nhân phong cùi không chỉ là bệnh tật đang ngày đêm gặm ṃn cơ thể anh, nhưng trước hết là sự ghê tởm và xa tránh của đồng loại, là sự bị cô lập khỏi xă hội loài người. Anh không c̣n được sống trong gia đ́nh, không c̣n được tiếp xúc với người khơe mạnh hay không c̣n được sống chung trong làng xóm với người khác, nhưng phải sống ở một nơi biệt lập hẳn với người khác, ở trong những túp lều hay trong những hang động xa xôi hẻo lánh. V́ sợ lây bệnh, nên không một ai dám bắt tay hay động vào người anh. Đó thật là một bản án vô cùng nặng nề, là cả một cực h́nh khủng khiếp nhất mà con người phải gánh chịu. V́ thế, trong một cuốn tiểu thuyết nổi danh tựa đề là “La Peste“ - Bệnh Dịch, Albert Camus đă tŕnh bày rất ấn tượng về t́nh trạng của người bị mắc bệnh dịch: phải sống ra sao, bị đối xử như thế nào, v.v... Nhất là ông đă làm cho người đọc hiểu được sự tác động của bệnh dịch trên tâm trạng và trên cả cuộc sống người bệnh trầm trọng như thế nào!
Ngày nay bệnh phonh cùi hay bệnh hủi không c̣n mang tính cách nghiêm trọng nữa, v́ nó có thể chữa lành. Một thứ bệnh khủng khiếp từng tiêu hủy bao nhiêu triệu nhân mạng trong hằng thế kỷ qua đă hoàn toàn bị chận đứng. Đó thật là một niềm vui quá to lớn, là một ơn lành vô cùng trọng đại cho toàn thể nhân loại. Con người có thể thở phào nhẹ nhơm và sống tin tưởng lạc quan hơn.
Thế nhưng ngày nay, một loại vi khuẩn của bệnh “phong cùi “kiểu mới đă tái xuất hiện dưới những dạng thức và danh xưng hoàn toàn khác hẳn, đang tác hại trên nhân loại và đă biến bao nhiêu người thành “người hủi thời đại“. Dĩ nhiên, ở đây tôi không muốn chỉ đề cập tới những bệnh nhân bị nhiễm vi trùng Xi-đa, HIV hay những người nghiện x́ ke ma túy, nhưng cả những người bị tàn tật đang phải sống nhờ vào sự bố thí của xă hội, những người vô gia cư đang lang thang đầu đường xó chợ hay những tội phạm và thân nhân của họ, v.v....
Có lẽ con người trong bất cứ thời đại hay trong bất cứ xă hội nào cũng phải mang ơn những người bệnh phong cùi, những người đang bị đẩy ra ngoài lề xă hội, bởi v́ nhờ họ bệnh mà chúng ta mới biết được rằng ḿnh c̣n có quá nhiều may mắn và hạnh phúc là không bị nhiễm những thứ vi trùng của những căn bệnh độc hăi đó. Và cũng nhờ vậy mà chưa bị xă hội cô lập, tẩy chay, chưa bị đẩy ra ngoài lệ xă hội.
Tuy nhiên, ai tự quá đề cao ḿnh, cho ḿnh là quan trọng, là “cái rốn “ của vũ trụ, người đó đương nhiên coi kẻ khác là đối thủ nguy hiểm của ḿnh và không thể chấp nhận cùng cho đứng trên một chiến tuyến với ḿnh đươc, nhưng t́m cách gạt bỏ ra ngoài lề xă hội. Vâng, theo tâm lư, khi thấy có ai đó có lối sống khác với chúng ta, tư duy khác với chúng ta, có tư tuởng chính trị khác với chúng ta hay giao lưu với những người chúng ta không quen biết,nhất là với những người chúng ta không ưa, v.v... tự nhiên chúng ta cảm thấy anh ta là người xa lạ, cảm thấy ḿnh đang bị đe dọa và rôi t́m cách xa lánh, cô lập anh ta và t́m cách đẩy anh ta ra ngoài lề: Loại người này không thể chấp nhận được, y không thuộc về quỉ đạo của chúng tôi. Tiếp đế, v́ không ưa nên đổ thừa cho bỏ ghét, cốt t́m cách loại trừ cho bằng được loại đối tượng mà chúng ta không ưa như thế!
Trong khi đó, Đức Kitô, Đấng mà chúng ta được mang trên ḿnh tên gọi của Người - Kitô hữu - lại có quan điểm và cách cư xử hoàn toàn khác hẳn. Đối với Người, trước hết tất cả mọi người đều là con cái Thiên Chúa, được Thiên Chúa dựng nên, được Thiên Chúa vô cùng yêu thương và đă được Người kêu mời hưởng ơn cứu rỗi. Đức Giêsu không chỉ dạy cho con người biết rằng họ đều là anh chị em với nhau, bởi v́ họ có một Cha chung trên Trời, nhưng chính Người đă sống như thế. Sự cố Đức Giêsu chữa lành người bệnh cùi được tường thuật lại trong bài Phúc Âm của Chúa Nhật hôm nay là một ví dụ điển h́nh về thái độ và cách xử sự đầy nhân bản của Đức Giêsu.
Trước hết, một cuộc sống như người bị bệnh phong này đang sống, kể như là không c̣n sống nữa, sống mà cũng như đă chết. Đó là cái chết về mặt tinh thần, cái chết “xă hội, trước khi chết thực sự về mặt y khoa. Do đó Đức Giêsu đă thương cho số phận của anh ta nên đă giơ tay ra và nói với người bệnh đáng thương đang đứng trước mặt ḿnh: “Tôi muốn cho anh nên sạch và khỏi bệnh!” Vâng, t́nh thương của Đức Giêsu đối với loài người chúng ta không chỉ bằng lời nói suông, không chỉ bằng tâm t́nh thông cảm và an ủi lư thuyết, nhưng bằng chính việc làm cụ thể, bằng sự dấn thân trọn vẹn.
Bởi vậy, chúng ta cần phải thành thực tự hỏi ḷng ḿnh:
- Làm thế nào để những người mắc phải những thứ bệnh khủng khiếp như phong hủi hay Xi-đa - xưa kia cũng như ngày nay - có thể tin tưởng được rằng họ vẫn được chấp nhận, khi chính họ lại không cảm nghiệm được điều đó trong đời sống hằng ngày?
- Làm thế nào để cho vợ con và thân nhân của của những người phạm pháp c̣n tin tưởng vào sự thiện hảo và ḷng tốt của đồng loại được, khi họ đang bị người láng giềng lối xóm nghi kỵ, tránh né và cô lập?
- Làm thế nào để những người vợ/chồng ly dị nhau và nay lại lập gia đ́nh với người khác, c̣n tin tưởng vào ḷng thương xót và khoan dung vô bờ của Thiên Chúa, khi họ bị chính nghững người Kitô hữu khác đối xử một cách bất khoan dung với họ, xua đuổi họ, nhất là tẩy chay không cho họ được lănh nhận các Phép Bí Tích?
- Làm thế nào để một người luôn bị thất bại trong cuộc đời, luôn chỉ gặp đau khổ và cảm thấy ḿnh bỏ rơi, c̣n có thể sống lạc quan và tin tưởng vào hạnh phúc được, khi không có lấy một người c̣n biết thông cảm và chia sẻ số phận hẩm hiu của anh ta, cùng đồng hành và động viên anh ta, giơ tay mắn chặt tay anh ta và thăm hỏi thân t́nh?
Chắc chắn rằng xă hội chúng ta, Giáo Hội chúng ta cũng như mỗi người Kitô hữu chúng ta sẽ không bị mất mát hay thiệt hại ǵ cả, nếu chúng ta biết gạt bỏ những định kiến và cố gắng đem đến cho cuộc sống xă hội thêm chút t́nh người, thêm chút t́nh nhân bản nữa, một chút nữa thôi! Nếu được như thế, bài Tin Mừng về biến cố Đức Giêsu chữa lành người phong cùi trong Chúa Nhật hôm nay khi được đọc trong tất cả các nhà thờ trên toàn thế giới sẽ không trở thành uổng công vô ích! Nếu được như thế, phép lạ Đức Giêsu đă làm để chữa lành bệnh xưa sẽ c̣n được tái diễn măi, ít là được “lành bệnh“ về mặt tinh thần, và giải cứu “người bị bệnh phong“ ra khỏi chốn ngục tù sự chết và đem anh ta trở lại cuộc sống mới trong tin tưởng và an ḥa.
(Suy niệm của Lm. Luigi Gonzaga Đặng
Quang Tiến)
Từ câu 1:39, Marcô ghi nhận là Chúa Giêsu đă bắt đầu mở rộng hoạt động khắp miền Galilê. Tiếp theo là câu chuyện chữa lành người phong hủi. Và trong câu kết (1:45), Marcô cho thấy dân chúng ở Galilê cũng bị thu hút mạnh mẽ bởi Chúa Giêsu. Họ đến với Người từ mọi vùng, như dân chúng ở Capharnaum đă làm (1:35-37). Câu chuyện chữa lành người phung hủi được thuật lại riêng, không chung với các bệnh nhân khác. Hầu hết các bệnh nhân đều được mang đến cho Chúa Giêsu để được chữa lành (1:32-34), chỉ có bệnh nhân phung hủi nầy tự ḿnh t́m đến với Người. Lư do là v́ sợ bị ô uế, mà chẳng ai dám đụng đến người phung hủi. Hành động và lời nói của người phung hủi đă được làm nổi bật cách đặc biệt trong tŕnh thuật nầy.
Hành động đầu tiên của bệnh nhân là đến lại gần và quỳ gối trước mặt Người. Theo luật Môisen, bệnh phong hủi là một bệnh ghê tởm. Người mắc bệnh bị xem như người ô uế, bị loại ra khỏi hàng ngũ của dân Thiên Chúa thánh thiện, và phải xa lánh mọi người (Lv 13). Bệnh nầy bị đánh giá như là một sự hủy hoại không những thân xác, mà cả mọi tương quan của bệnh nhân với Thiên Chúa và xă hội. Do đó, đến gần và quỳ gối trước Chúa Giêsu là một thái độ đức tin. Ông đến với Chúa Giêsu v́ đă thấy Người đă chữa lành nhiều người (1:21-28; 32-34). Và ông cũng thấy Người có quyền năng hơn cả các luật sĩ (x.1:22), nên ông bất kể luật Môisen mà đến với Người. Ông đến để cầu xin chữa bệnh: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Lời cầu xin nầy xác nhận đức tin thúc đẩy ông đến với Chúa Giêsu (x. 1:15). Ông tin Người có quyền năng, và Người có thể làm được nếu Người muốn. Ông phó thác vào ư muốn của Người. Lời cầu xin cũng phản ánh hiện trạng của ông: bệnh phong hủi làm cho ông bị ô uế, bị ruồng bỏ và chỉ có Chúa mới làm cho ông được sạch.
Đáp lại cử chỉ đức tin của người phong hủi, Chúa Giêsu đưa tay đụng đến anh và nói lời chữa bệnh. Đưa tay ra là dấu hiệu hành động của quyền năng Thiên Chúa (Xh 3:20; 7:5; Tv 138:7), hoặc hành động nhân danh Thiên Chúa (Xh 14:16.21.27). Đụng đến người phung hủi theo Luật là vấy uế. Nhưng v́ Chúa Giêsu ở trên Luật Môisen (x. 2:10-12), nên khi đụng đến ông, Người không bị ô uế. Ngược lại, Người làm cho người bị kể là ô uế được lành sạch hoàn toàn. Cũng đáp lại lời tuyên xưng đức tin của người phung hủi, Chúa Giêsu dùng lại lời của ông mà chữa ông lành:”Tôi muốn, anh sạch đi!”.
Lư do Chúa Giêsu muốn người phung hủi ra về trong thinh lặng là để ông có thể cảm nghiệm lâu dài và cách cá nhân quyền năng của Thiên Chúa, biểu lộ trong Chúa Giêsu, đang thực hiện trong ông. Quyền năng ấy đă chữa ông lành bệnh phong hủi, đă đưa ông vào lại trong tương quan và hiệp thông với Thiên Chúa và con người (x. Lv 14:1-32). Nhưng Chúa Giêsu không thành công. Người không thể kiềm hăm được người phong hủi. Ông được chữa lành, và ông kinh nghiệm bản thân về ḷng thương xót và quyền năng của Thiên Chúa quá lớn lao trong ông, khiến ông chỉ có một cách là “rao giảng” kèrusṣ, tin mừng ấy cho mọi người biết. Sau Gioan (1:4), Chúa Giêsu (1:14.38. 39), ông là người thứ ba rao giảng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa (1:45), và những người khác sau ông (3:14; 5:20; 6:12; 7:36).
Chúa Giêsu đến để hội nhập lại những người ngoài trật tự của con người và Thiên Chúa. Người thực hiện điều ấy với quyền năng và ḷng thương xót, nên danh Người vẫn được loan truyền giữa con người.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Raoul Folereau, vị đại ân nhân của những người phong cùi đă ghi lại một chuyến đi của ông như sau: Đến một nơi cách thành phố 15 cây số, chúng tôi lần theo một lối đi được chỉ trước, và sau nửa giờ đi bộ chúng tôi lạc vào một thế giới của buồn thảm, đau khổ và thất vọng. Thật thế, tại một nơi mà không ai muốn đặt chân đến, có khoảng 60 người phong cùi đang sống bên nhau. Trước đây, người ta giam họ trong một trại cùi chẳng khác nào một trại tù, mọi người nh́n họ như những kẻ bị chúc dữ, hoặc tệ hơn nữa, như những con thú dữ. Không chịu nổi sự giam hăm và cách ly như thế, một số người cùi này đă trốn thoát và đến trú ẩn giữa khu rừng này. Tại đây, t́nh trạng của họ càng thêm tồi tệ hơn, xung quanh họ, trên đất đầy dẫy những vết tích của căn bệnh quái ác này.
Tôi đến bên một người lớn tuổi được xem như đại diện của họ và hỏi:
- Hôm nay là chiều Thứ Bảy, cửa quán ngoài phố xá đă đóng cửa rồi; thứ hai tôi sẽ trở lại và mang theo thức ăn thức uống; tôi cũng sẽ đưa một bác sĩ đến để chăm sóc cho bà con, chúng tôi sẽ cất nhà và sẽ ở lại đây với bà con khi cần, vậy bác hỏi bà con có thể chờ cho đến ngày Thứ Hai không?
Người đó đưa mắt nh́n tôi với vẻ nghi ngờ, v́ đă từ lâu họ không c̣n tin điều đó nữa; đối với họ, xem ra không c̣n ai đáng tin trên đời này nữa. Rồi ông khẩn khoản nói:
- Ông không thể giúp cho chúng tôi ngay được sao? Chúng tôi vừa mới có một người anh em qua đời, chúng tôi phải dùng đôi tay cùi lở này để đào xới một cái mộ chôn người anh em.
Tôi nh́n đôi bàn tay không nguyên vẹn v́ bệnh tật, nay phải mang thương tích v́ người đồng loại. Những con người khốn khổ đó nếu không nh́n thấy, không thể tin được là có thật.
Căn bệnh phong cùi vẫn là căn bệnh ghê sợ nhất đối với hiện tại. Người phong cùi đau đớn trên thân xác đă đành, mà c̣n đau khổ gấp bội phần trong tâm hồn khi cảm thấy bị bỏ rơi.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đă gặp gỡ và chữa lành cho người phong cùi. Không những chữa lành tấm thân bệnh hoạn, Ngài c̣n tái lập họ trong cộng đoàn nhân loại, khi bảo bệnh nhân đi tŕnh diện với các tư tế, nghĩa là hội nhập họ trở lại cuộc sống. Sự tái hội nhập này luôn đ̣i hỏi sự cảm thông, ḷng quảng đại và cởi mở đón nhận của người khác. Vi trùng Hansen đục khoét và hủy hoại thân xác con người, th́ cũng có biết bao thứ vi trùng khác độc hại hơn đang ẩn núp trong tâm hồn con người, tên của chúng là dửng dưng, ích kỷ, thù hận. Chúng đang giết dần giết ṃn con người mà con người không hay biết.
Xin Chúa tha thứ cho những mù quáng, dửng dưng và ích kỷ của chúng ta trước bao nhiêu cảnh khốn cùng của đồng loại. Xin Ngài ban cho chúng ta một trái tim biết cảm thông và đôi tay rộng mở để san sẻ.
Suy Niệm:
Đây là quy chế người mắc bệnh phong theo sách Lêvi (13, 45-46). Người ấy phải mặc quần áo rách, để tóc bù xù, che môi trên, phải vừa đi vừa kêu lên: “Ô uế! ô uế!” để người ta biết mà tránh xa. Người phong phải ở một ḿnh, phải ở một chỗ bên ngoài trại… Như thế từ xa xưa, người ta đă biết đến sự dễ lây lan của bệnh phong và ảnh hưởng nguy hiểm trên thân xác do chứng bệnh này.
Để được chứng nhận là đă khỏi bệnh, người phong phải tŕnh tư tế, phải qua một quá tŕnh phức tạp để thanh tẩy trong tám ngày, và phải dâng những con vật bị sát tế để làm lễ xá tội (Lêvi 14).
Người phong trong bài Tin Mừng hôm nay đă không giữ Luật Môsê. Anh dám lại gần Đức Giêsu, dám tin ngài có khả năng làm anh được sạch, mặc dù theo truyền thống Kinh Thánh, chỉ Thiên Chúa mới làm được chuyện đó.
Đức Giêsu v́ thương anh, nên cũng đă làm điều không được phép. Ngài dám đưa bàn tay ra và đụng đến anh, đụng đến da thịt nhơ uế của anh, đến chính phận người hẩm hiu của anh, dù chỉ một lời của ngài thôi cũng đủ làm anh khỏi bệnh.
Cái đụng của bàn tay Đức Giêsu đă không làm ngài bị ô uế. Trái lại, nó đă đem lại sự thanh sạch cho anh bị phong.
Để làm phép lạ chữa bệnh rất lừng lẫy này, Đức Giêsu đă phải trả giá.
Người phong khi được khỏi, đă không tránh được chuyện rêu rao. V́ thế người ta đổ xô nhau tới khiến ngài phải ở ngoài thành. Khi người khỏi bệnh vào được thành th́ Đức Giêsu lại phải ở hoang địa!
Thái độ chạnh ḷng thương và đụng đến người phong của Đức Giêsu đă gợi hứng cho nhiều tâm hồn noi gương bắt chước.
Tại nhiều trại phong ở Việt Nam, ta thấy bóng dáng của các nữ tu. Họ ở trại phong Bến Sắn, Di Linh, Quy Ḥa, Văn Môn… Nhiều nữ tu đă hiến dâng tuổi trẻ của ḿnh để phục vụ người phong, đụng đến những vết thương tàn phế nơi thân xác họ. Các chủng sinh Miền Bắc cũng đă quen tiếp xúc với người phong, ở lại với họ, săn sóc và chia sẻ thân phận của họ.
Giáo hội Công Giáo sung sướng được phục vụ người phong ở khắp nơi, và coi đây như một nét đặc trưng của khuôn mặt Giáo Hội.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu thương mến, xin ban cho chúng con tỏa lan hương thơm của Chúa đến mọi nơi chúng con đi.
Xin Chúa hăy tràn ngập tâm hồn chúng con bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
Xin Chúa hăy xâm chiếm toàn thân chúng con để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.
Xin Chúa hăy chiếu sáng qua chúng con, để những người chúng con tiếp xúc cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy t́nh yêu của Chúa.
(Mẹ Têrêxa Calcutta)
Mở đầu.
Sứ vụ của Chúa Giêsu nơi loài người đă được khẳng định trong các trường hợp đơn giản và thông thường mà mọi người đều hiểu được. Chúa Giêsu là Đấng cứu độ. Ngài không đến mang giải pháp cho vô số vấn đề hàng ngày, nhưng để giải phóng loài người khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết đang thống trị họ. Giai đoạn đời sống Chúa Giêsu mà chúng ta đọc trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ cách mới mẻ và thời sự về sứ vụ của Ngài đối với chúng ta.
Bệnh tật.
Chúng ta thất vọng và chua xót khi thuốc của chúng ta uống không đạt hiệu quả. Ai mà không t́m cách chống lại một cơn nhức đầu sổ mũi bằng những liều thuốc thần được quảng cáo khắp nơi, và cuối cùng cũng phải nhượng bộ trước sức tấn công của bệnh cúm. Vào thời Chúa Giêsu, người ta hầu như không có cách nào chống lại bệnh tật cả và nó cũng hoành hành như ngày nay. Nơi người ngoại giáo, người ta thường mặc nhiên gán cho bệnh tật sự thù ghét của những quyền lực của thần dữ, cho sự trừng phạt của Thiên Chúa v́ tội lỗi, ngay cả những tội lỗi mà người ta không hề biết tới. Tại Israel, bệnh tồi tệ nhất trong các bệnh là bệnh phong cùi. Đôi khi người ta có thể lành được nhưng điều ấy có nghĩa là Chúa đă tha tội. Thường thường, phải để cho cơn bệnh tăng dần theo diễn tiến ghê rợn của nó thôi.
Người phong cùi đến với Chúa Giêsu xin được tẩy sạch. Anh ta xin một điều lớn hơn là được hồi phục trong thân xác. Anh ta khẩn nài Chúa Giêsu tẩy sạch tâm hồn anh khỏi những tội lỗi đă gây cho anh nỗi khốn khổ này. Một khi được tẩy sạch trong ḷng, thân xác anh sẽ được tái sinh.
Thái độ của Chúa Giêsu.
Không ai sẽ ngạc nhiên về thái độ của Chúa Giêsu cả. Trái lại người ta ngạc nhiên về những lời cảnh cáo nghiêm khắc của Ngài. Chữa lành người bệnh chẳng đủ rồi ư? Tại sao c̣n bắt anh phải giữ thinh lặng, một việc khó khăn như thế, trong lúc mọi người chung quanh đều nhận thấy anh ta được chữa lành? Tại sao bắt anh ta phải làm một công việc phiền toái, là đến cho một công chức của đền thờ kiểm tra việc chữa lành đă quá hiển nhiên như thế.
Chúa Giêsu yêu cầu kẻ Ngài tẩy sạch khỏi bệnh phong cùi làm một việc hoán cải nghiêm túc và rơ rệt. Sự thinh lặng mà anh ta phải giữ về biến cố anh được chữa lành sẽ ngăn cản anh khỏi gán cho ḿnh công trạng của việc thanh tẩy này, hoặc dùng nó để thu hút sự chú ư đến ḿnh. Sự thinh lặng sẽ ǵn giữ anh khỏi chơi tṛ anh hùng, điều này sẽ gây ra kiêu ngạo và sinh tội nữa.
C̣n việc anh ta phải làm tại đền thờ sẽ ghi dấu sự kiện anh được tái nhập vào cộng đoàn, mà chỉ có thể thực hiện một cách công khai thôi. Việc này cũng sẽ cho phép anh bắt đầu lại cuộc sống trung thành với Chúa. Tuyên dương những kỳ công của Thiên Chúa mà thôi th́ chưa đủ, c̣n phải sống ngày này qua ngày nọ trong sự khiêm tốn trung thành với ư Chúa nữa. Việc tŕnh diện nơi đền thờ sẽ khai mào cho sự trung thành mới mẻ này.
Người phong cùi.
Theo Tin Mừng, người phong cùi không có vẻ hiểu rơ ư định của Chúa Giêsu về ḿnh. Anh ta không thể giữ miệng được, anh nói oang oang ra và mọi người đi t́m Chúa Giêsu, mỗi người đều hy vọng sẽ nhận được phép lạ cho ḿnh hoặc, ít nhất, là được chứng kiến những phép lạ mà ḿnh sẽ kể cho bà con lối xóm.
Anh chị em hăy ghi nhận rằng Chúa Giêsu không gọi người ấy tới để nói với anh ta rằng Ngài rút lại việc chữa lành và anh sẽ bị phong cùi như trước. Ngài để cho anh hưởng niềm vui và cuộc sống mới, cho dù nó bắt đầu một cách mỏng ḍn. Ḷng thương xót của Chúa như thế đó, Ngài vẫn trung thành bất chấp những sự vụng về, chậm tin và thất tín của những kẻ đă được thương xót.
Kết luận.
Trong ḷng mỗi người chúng ta có một nguồn ô nhiễm lan đến sự sống mà phép rửa đă ban cho chúng ta. Đó là một sự gắn bó keo sơn với tội lỗi, những tội mà chúng ta tái phạm hoài một cách vô ư thức. Chúng ta cần được thanh tẩy triệt để, đó là công tŕnh của ḷng thương xót. Chúng ta hăy đến xin Chúa Giêsu, Đấng thanh tẩy chúng ta.
(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)
Căn bệnh cùi đă lây nhiễm rất nhiều trong xă hội thời bấy giờ. Vào thời Chúa Giêsu căn bệnh này th́ đáng sợ nhất trong mọi thứ bệnh tật. Những khuôn mặt bị tàn phá của nạn nhân đă cưỡng bách họ phải sống trong vùng hoang mạc xa cách gia đ́nh và bạn bè, họ không c̣n xứng đáng thờ lạy một cách công khai nữa.
Khi người phong cùi tiến đến gặp Chúa Giêsu để t́m sự chữa lành, ông ta đă ra ngoài giới hạn của ḿnh. Ông không được phép rời khỏi chỗ lưu đày của ḿnh để đến nơi dân chúng tụ họp lại. Ông là một người đă bị xă hội ruồng bỏ. Đúng hơn khi yêu cầu sự giúp đỡ của Chúa Giêsu, ông ta đă kêu lên: “Tôi bị ô uế, tôi bị ô uế” và như vậy là không ai dám đến gần ông ta.
Đoạn Phúc Âm ngày hôm nay th́ rất đặc biệt, không những Chúa Giêsu tiếp đón người đàn ông đó; mà thật sự Ngài c̣n đưa tay ra và đụng đến ông. Ngài không xua đuổi, khinh bỉ người đàn ông biến dạng khốn khổ này. Và hơn thế nữa, Chúa Giêsu đă kêu xin một quyền lực cao hơn của luật Lêvi là bất cứ ai đụng đến người hủi là người không thanh sạch và như thế có nghĩa là người không xứng đáng làm việc thờ lạy. Chúa Giêsu đă ngấm ngầm loại bỏ điều luật như vậy và Ngài tuyên bố đức Ái cao hơn tất cả các việc khác. Ngài nói với người hủi hăy đi tŕnh diện với tư tế ở đền thờ để vị tư tế tuyên bố ông đă được sạch bệnh hủi và chấp nhận cho ông trở lại việc thờ phượng công khai.
Ngài muốn thay đổi thái độ của chúng ta hướng đến những người hủi và những người bị loại bỏ trong xă hội. Chúng ta cần phải chấp nhận một thách đố từ Chúa Giêsu, không nh́n những người hủi như là chưa bao giờ nh́n thấy, nhưng hăy nh́n những người đó với tất cả sự quan tâm bởi họ đă bị những người cùng thời khinh miệt.
Căn bệnh đáng sợ nhất trong thời đại của chúng ta là bệnh Siđa, một cách nào đó như là bệnh hủi trong thời đại chúng ta bây giờ. Một số người nhanh chóng kết án bất cứ người nào lây nhiễm HIV, làm như đó là một sự xuống cấp của luân lư, đi xa hơn nữa có thể nói Thiên Chúa đă phạt họ, rằng họ phải chịu như vậy th́ đáng lắm, Chúa Giêsu không hỏi người cùi về đạo đức của ông. Người không làm một xét đoán nào về ông ta ngay cả khi Ngài đọc được nỗi ḷng của ông. Chúa Giêsu biết Cha của Người là Thiên Chúa nhân từ và hay tha thứ và Chúa Giêsu đă đến để trợ giúp người phong hủi này. Điều đó nói với chúng ta thái độ mà chúng ta phải trở thành.
Một số người bạn của chúng ta muốn người ngoại quốc ra khỏi đất nước của ḿnh. Thái độ đó của họ chính đáng khi xem những người dân nhập cư như tội nhân, bởi v́ họ hay xem thường và hay phá luật. Giáo Hội không bào chữa cho bất kỳ hành động bất công hay thô bạo nào, nhưng Giáo Hội vẫn lấy Chúa Giêsu làm gương mẫu đức ái th́ cao hơn bất cứ luật nào khác.
Một số người nh́n vẻ khinh miệt trên những người lănh tiền trợ cấp, họ là những bà mẹ không kết hôn, họ rất nhanh chóng dè bỉu các phần từ khác trong ṇi giống hoặc quốc gia có điều ǵ hơn bản thân họ. Có ai lắng nghe Phúc Âm rồi lại khinh bỉ người khác không? Có người nào theo Chúa Giêsu trong hành tŕnh nhân từ và thương xót của Người để rồi đối xử với người khác cách khinh bỉ không? Có người nào cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, mà lại kết án người khác không?
Ngày nay ít người mắc bệnh hủi nhưng lan tràn giữa chúng ta là căn bệnh oán ghét, tự cho ḿnh là công chính và loại bỏ những người bạn của ḿnh, những người có lương tâm không thể có những tinh thần đó, nó xa lạ với những người theo Chúa Giêsu.
Cách đây ít lâu, tôi có dịp ghé thăm các bệnh
nhân bị phong hủi ở "Trại cùi Di Linh". Mỗi
người có một hoàn cảnh thật đáng
thương. Họ làm nhà ở gần nhau, sống tập
trung mà mọi người vẫn gọi là "trại",
nơi đó ngoài những d́ Ḍng Bác Ái, những ư tá, bác sĩ
hay những người thiện nguyện chăm sóc...th́ hầu
như tất cả đều là những người bệnh.
Họ sống với nhau như những người đồng
cảnh ngộ mà không dám đi xa ra khỏi "trại"
của ḿnh v́ sợ bị mọi người xa lánh. Bởi
v́ người ta ghê tởm v́ căn bậnh của họ
hoặc là sợ bị lây. Hoàn cảnh của những
người bị phong hủi ở Di Linh cũng không khác
chi với người bị phong hủi trong bài Tin Mừng
hôm nay. Có thể nói tất cả những người bị
bệnh phong hủi th́ thật đáng thương, nhất
là trong hoàn cảnh xă hội Do Thái lúc bấy giờ th́ lại
càng đáng thương hơn nữa, bệnh phong là một
bệnh nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh.
Trong đạo Do Thái, người mắc bệnh phong bị
gạt ra ngoài lề xă hội. Họ không được sống
chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi
ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc.
Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến
đâu cũng phải kêu to lên: "Ô uế, ô uế",
cho mọi người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với
người bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai
đụng chạm vào người bệnh phong bị coi
như mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến
gần người bệnh phong. Người bệnh
như thế, không những bị những vết
thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà c̣n bị
những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn
vặt khổ sở. Họ bị xă hội khinh khi loại
trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày ṿ.
Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống
mà bị coi như đă chết. Nhưng chưa chết
được, họ vẫn phải tiếp tục sống
để chịu những nỗi đau đớn c̣n
hơn cả cái chết gặm nhấm, thiêu đốt.
Thế nhưng khi mà người ta nghĩ ḿnh không c̣n niềm hy vọng nào, không c̣n chỗ nào để bám víu, không c̣n ai quan tâm, không c̣n ai dám đụng vào, th́ chính Chúa lại đưa bàn tay ra chạm lấy để nâng họ lên. Qua h́nh h́nh ảnh của những D́ Phước, những lương y bác sĩ, những người thiện nguyện cho tôi thấy rơ h́nh ảnh của Đức Giêsu qua con người của họ nhằm xoa dịu đi căn bệnh đau khổ trên thân xác họ. Từ h́nh ảnh đó cho tôi liên tưởng đến những bệnh "cùi" trong tâm hồn nó c̣n nguy hiểm hơn gấp bội, mà chắc chắn nơi mỗi người đều có căn bệnh đó trong người
1. Chữa bệnh cùi thể xác.
Tất cả ước mơ của người thanh niên bị bệnh phong hủi trong bài Tin Mừng là được khỏi bệnh, trở nên lành sạch, được làm một con người b́nh thường, nối lại những liên hệ với xă hội. Khi anh ta đến xin "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch." Chúng ta có thể ngần hiểu rằng anh ta đă hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu và chỉ có Chúa Giêsu mới chữa anh ta khỏi bệnh mà thôi. Từ lời kêu cầu mong mỏi của con người đó, Ngài đă không ngần ngại trả lời "Tôi muốn, anh sạch đi!", điều đó đă được phát xuất từ con tim, Ngài đă trả lại cho anh những ǵ đă mất. Ngài phá tan đi rào cản ngăn cách giữa người bệnh mà xă hội Do Thái ruồng bỏ bằng cách "giơ tay đụng". Thái độ đối xử của của Đức Giêsu hoàn toàn b́nh đẳng với những người bất hạnh. C̣n chúng ta đă có thái độ như thế nào? Chúng ta có thái độ coi thường và xa tránh không? Thật là đáng trách khi mà ngày nay chúng ta vẫn giữ lấy những thành kiến lầm lạc, những luật lệ làm cho con người xa cách con người, nhiều khi đưa đến làm cho họ xa cách cả Thiên Chúa.
2. Chữa bệnh cùi tâm hồn
Điểm hay trong bài Tin Mừng hôm nay chính là khi thấy người bị bệnh hủi đến gần ḿnh, Đức Giêsu không xua đuổi, nhưng để anh đến. Chẳng những thế Ngài c̣n "giơ tay đụng" vào anh. Bằng cử chỉ giơ tay đụng vào anh như thế, Đức Giêsu tỏ dấu hoan nghênh anh, đón nhận anh. Và thái độ hoan nghênh đón nhận đó đă chữa anh khỏi mặc cảm và nỗi đau bị xua đuổi. Cho nên có thể nói, trước khi chữa bệnh thể xác cho anh, Ngài đă chữa lành tinh thần của anh. Khi Đức Giêsu vuốt ve thân thể bệnh tật của anh, Người đă vuốt ve tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh. Nay anh cảm thấy qua Đức Giêsu mọi người gần gũi anh hơn bao giờ. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi. Nay, dưới bàn tay dịu hiền của Đức Giêsu, anh cảm thấy được yêu thương vỗ về. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đă liền da lành lặn. Đức Giêsu đă hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh.
Lạy Chúa, Xin cho chúng con nhận ra quyền năng và t́nh yêu của Chúa trong cuộc đời chúng con. Để chúng con cũng biết chạy đến xin Ngài chữa lành bệnh tật hồn xác chúng con. Amen.
Thời xưa, bệnh phong là một bệnh
nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh. Trong đạo
Do thái, người mắc bệnh phong bị gạt ra
ngoài lề xă hội. Họ không được sống
chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi
ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc.
Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến
đâu cũng phải kêu to lên: “Ô uế, ô uế”, cho mọi
người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với người
bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai đụng
chạm vào người bệnh phong bị con như mắc
tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần
người bệnh phong. Người bệnh như thế,
không những bị những vết thương trên thân xác
hành hạ đau đớn mà c̣n bị những nỗi
đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt khổ
sở. Họ bị xă hội khinh khi loại trừ. Họ
bị một mặc cảm chua chát dày ṿ. Nhân phẩm không
được tôn trọng, họ sống mà bị con
như đă chết. Nhưng chưa chết được,
họ vẫn phải tiếp tục sống để chịu
những nỗi đau đớn c̣n hơn cả cái chết
gặm nhấm, thiêu đốt.
Một lần nữa, Đức Giêsu lại vượt qua những biên giới cấm kỵ khi dám đến gần người bệnh phong. Không những Người đến gần mà c̣n đưa tay chạm vào thân ḿnh bệnh nhân. Ḷng thương yêu đă khiến Đức Giêsu dám làm tất cả. V́ thương người bệnh, Đức Giêsu đă bất chấp nguy hiểm bị lây nhiễm, đă bất chấp những điều bị coi là cấm kỵ của đạo Do Thái.
Khi chữa khỏi bệnh phong, Người đă giải thoát người bệnh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay anh không c̣n bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành lặn. Da dẻ anh trở lại hồng hào tươi tắn. Khuôn mặt anh rạng rỡ. Giọng nói anh thanh tao. Anh cũng là một người như bao người khác.
Nhưng điều quan trọng hơn, đó là khi chữa anh khỏi chứng bệnh nan y, Đức Giêsu đồng thời cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn anh bao năm tháng qua. Khi Đức Giêsu vuốt ve thân thể bệnh tật của anh. Người đă vuốt ve tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh. Nay anh cảm thấy qua Đức Giêsu mọi người gần gũi anh hơn bao giờ. Trước kia anh cảm thấy bị khinh miệt. Nay anh cảm thấy được trân trọng. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi. Nay, dưới bàn tay dịu hiền của Đức Giêsu, anh cảm thấy được yêu thương vỗ về. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đă liền da lành lặn. Đức Giêsu đă hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh.
Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xă hội. Đức Giêsu bảo anh đi tŕnh diện với thày cả theo như luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra ngoài lề xă hội. Nay anh được bàn tay âu yếm ân cần của Đức Giêsu đón nhận anh trở lại xă hội loài người. Qua vị thượng tế, anh được công khai đón nhận. Nhân phẩm anh được phục hồi. Danh dự anh được tôn cao. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người, như mọi người.
Chúng ta ai cũng có những mặc cảm đè nặng tâm hồn, những vết thương sâu kín, những niềm đau khôn nguôi, những nỗi buồn hầu như không ai thông cảm được. Hăy noi gương người bệnh phong chạy đến với Đức Giêsu. Người sẽ xóa đi những mặc cảm đè nặng hồn ta. Người sẽ chữa lành những vết thương bao năm gặm nhấm trái tim ta. Người sẽ xoa dịu những nỗi đau ṿ xé tâm tư. Người sẽ an ủi những nỗi buồn phủ kín hồn ta.
Phần ta, hăy biết noi gương bắt chước Đức Giêsu, đừng loại trừ anh em ḿnh ra khỏi đời sống xă hội. Hăy biết đến với những anh em bị bỏ rơi. Hăy biết an ủi những anh em đang buồn khổ. Hăy biết tránh cho anh em những mặc cảm nặng nề. Hăy hàn gắn những vết thương trong tâm hồn anh em. Hăy tôn trọng danh dự và nhân phẩm của anh em. Hăy giúp cho anh em ḿnh được ḥa nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xă hội. Nước ta đang quyết tâm thanh toán bệnh phong vào cuối năm nay. Xứ đạo ta cũng hăy quyết tâm thanh toán bệnh phong trong tâm hồn. Hăy diệt trừ bệnh phong chia rẽ. Hăy tẩy chay bệnh phong loại trừ. Hăy xóa đi bệnh phong phân biệt. Hăy phá tan bệnh phong nghi kỵ. Hăy bài trừ bệnh phong kết án. Nếu ta thanh toán được bệnh phong tâm hồn, thân thể xứ đạo ta sẽ liền da liền thịt, khuôn mặt xứ đạo ta sẽ hồng hào, rạng rỡ vui tươi phản ảnh được khuôn mặt đích thực của Đức Kitô.
Lạy Đức Giêsu, xin cứu độ chúng con. Amen.
CÂU HỎI GỢI Ư ĐỂ CHIA SẺ
1- Cha Đa-miêng và Đức cha Cát-xe đă sống với người phong và lây bệnh của họ. Có lần nào bạn đă tiếp xúc với người bị bệnh hay bị bỏ rơi chưa? Bạn có phải trả giá về hành động này không?
2- Có bao giờ bạn đă là nạn nhân bị người khác loại trừ chưa? Bạn cảm thấy thế nào? Bạn rút ra được bài học ǵ từ kinh nghiệm đó?
3- Bạn đă có kinh nghiệm về sự được Chúa an ủi, được Chúa cứu chữa, được Chúa tha thứ bao giờ chưa?
4- Bệnh phong tâm hồn là ǵ?
(Trích trong ‘Manna’ – Lm Nguyễn Cao Siêu)
Suy Niệm
Mẹ Têrêxa lập quỹ giúp người phong ở Calcutta. Những thùng quyên tiền của Mẹ mang ḍng chữ: “Hăy chạm đến một người phong bằng ḷng trắc ẩn của bạn”.
Chạm đến người phong là điều xưa nay ai cũng sợ. Theo luật Cựu Ước, người phong phải mặc rách, xơa tóc, che râu. Đi đâu người ấy cũng phải la to: “Ô uế! ô uế!” (Lv 13,45-46). Bị cách ly với mọi người, bị coi như mắc trọng tội, đau đớn cả xác lẫn hồn, người phong sống mà như chết.
Người phong trong bài Tin Mừng hôm nay khá đặc biệt. Anh tự ư đến gặp Đức Giêsu và quỳ xuống trước mặt Ngài. Lời van xin của anh thật là một lời xin mẫu mực. “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.
Nếu Ngài muốn: anh mời gọi ḷng thương xót của Ngài. Anh để cho Ngài tự do chữa hay không tùy ư. Dù rất muốn khỏi bệnh, nhưng anh lại phó thác số phận ḿnh cho ư Ngài muốn. Ngài có thể: anh tin tưởng vào quyền năng của Ngài. Anh không nói như người cha của đứa con bị động kinh: “Nếu Thầy có thể làm được ǵ...” (Mc 9,22).
Đối với anh, chắc chắn Ngài có thể chữa anh lành bệnh. Chỉ cần Ngài muốn là đủ rồi. Chính thái độ tin tưởng, đơn sơ, phó thác của anh đă đụng rất mạnh đến chỗ sâu nhất trong ḷng Đức Giêsu.
Không cưỡng lại được sự tin cậy đó, Ngài nói: “Tôi muốn.” Phép lạ phát sinh từ ḷng tin của người phong và từ ư muốn đầy quyền năng của Đức Giêsu.
Nhưng Ngài không chỉ muốn, mà c̣n đụng vào anh. Ngài không kinh tởm, không sợ lây, không sợ bị ô uế. Bàn tay Ngài đụng vào da thịt anh với các vết thương. Ngài không bị ô uế, nhưng Ngài làm cho anh hết ô uế. Chính ḷng thương đă khiến Ngài mạnh dạn đụng vào anh, như chính anh đă mạnh dạn đến với Ngài bằng ḷng tin.
Đức Giêsu vừa tự do với Lề Luật, vừa lệ thuộc Lề Luật. Ngài bảo anh đi tŕnh diện với tư tế và dâng của lễ.
Chúng ta cần nếm niềm vui của người phong được lành.
Anh hạnh phúc v́ được sạch, được làm người b́nh thường, được chung sống với cộng đoàn, được hiệp thông với Thiên Chúa. Anh lấy lại phẩm giá, ra khỏi những mặc cảm. Niềm vui quá lớn khiến anh đi loan báo khắp nơi. Người phong sau khi được khỏi đă có thể vào thành. C̣n Đức Giêsu lại phải ở ngoài thành, nơi hoang vắng.
Từ khi ông Hansen t́m ra vi trùng bệnh phong năm 1871, người phong đă có được niềm hy vọng chữa lành. Họ không c̣n bị trục xuất ra đảo xa hay bị bách hại. Nhưng để cho họ được sống như mọi người vẫn là điều khó.
Cũng có những người bị ta xa tránh như người phong: những cô gái lỡ lầm, những người mắc bệnh sida hay nghiện ngập, những người có tiền án hay thuộc giai cấp cùng đinh... Hăy đến gần họ và để họ đến gần ḿnh, v́ nói cho cùng, ít nhiều chúng ta đều là người phong.
Gợi Ư Chia Sẻ
Khi cầu nguyện để xin ơn, thường chúng ta ít để cho Chúa được tự do. Chúng ta như muốn bắt Chúa phải làm theo ư ḿnh. Lời cầu xin của người phong có nhắc nhở bạn điều ǵ đó không?
Cha Đamiêng, Đức Cha Cassaigne đă sống với người phong và lây bệnh của họ. Bạn có lần nào đụng chạm hay tiếp xúc với một người bị bỏ rơi, bị coi là ô uế không? Bạn có phải trả giá về hành động này không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, có những ngày đón nhận những người khác là điều vượt quá sức con, v́ con kiêu hănh, tự hào và yếu đuối.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, có những ngày con không thể nào kính trọng kẻ khác được, v́ ư kiến, v́ màu da, v́ cái nh́n của người ấy.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con có những ngày mà yêu mến người khác làm cho tim con đau nhói, v́ nỗi sợ hăi, nỗi khổ đau và những giới hạn của bản thân con.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con trong những ngày khó khăn đó, xin hăy nhắc cho con nhớ rằng tất cả chúng con đều là con cái Chúa và đừng để con quên Lời Chúa nói: “Điều ǵ chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho chính Ta”
Đối với tâm lư người xưa
nói chung và người Do Thái nói riêng, bệnh tật nếu
không phải do tội lỗi th́ cũng là tṛ ma chước
quỷ bày ra. Xét theo diện nào, th́ bệnh tật cũng
đều đáng sợ. Và bệnh càng nặng, càng ghê tởm,
người ta càng phải cẩn thận, đề pḥng.
Ở đất Do Thái thời bấy giờ có lẽ không bệnh nào nan trị bằng bệnh phong cùi. Nó vừa ghê tởm vừa dễ lây. Xă hội lập tức đă phải có biện pháp đối với những người mắc bệnh phong cùi. Luật pháp Do Thái trục xuất người phong cùi ra khỏi đời sống cộng đồng xă hội. Người phong cùi phải ra khỏi nhà, đến ở những nơi hoang vu hẻo lánh, không được tiếp xúc với ai và cũng không được để cho ai đến gần ḿnh. Gặp ai qua đường, bệnh nhân phải lên tiếng làm hiệu trước để cho mọi người tránh xa, kẻo bị ô nhiễm theo luật. Vô phúc cho ai bị ô nhiễm như vậy, v́ sẽ bị tuyệt thông, không được tham dự các nghi lễ nữa, trước khi làm lễ thanh tẩy theo luật dạy. C̣n chính người phong cùi, khi thấy thân xác lành sạch phải đến tŕnh diện các Thầy Tư Tế để xin khám nghiệm. Nếu đúng đă lành bệnh thật, họ c̣n phải dâng lễ đền tội và thanh tẩy trước khi được cấp giấy chứng nhận phục hồi quyền hiệp thông với cộng đồng xă hội.
Anh chị em thân mến,
Có hiểu số phận thảm thương của người phong cùi trong xă hội Do Thái thời xưa, chúng ta mới hiểu được ư nghĩa đoạn Tin Mừng hôm nay: Một người phong cùi dám đến gần Chúa Giêsu, bất chấp pháp luật ngăn cấm. Anh đến quỳ xuống van lạy Chúa Giêsu. Thái độ đó chứng tỏ một ḷng tin thật mạnh mẽ. Chúa Giêsu động ḷng thương, Ngài cũng bất chấp pháp luật, Ngài giơ tay ra đụng đến người phong cùi và phán: “Ta muốn anh được sạch”, tức th́ bệnh phong cùi biến mất, người phong cùi được lành sạch.
Ngày nay, quan niệm khắt khe đối với bệnh phong cùi đă chuyển biến. Nhiều người và nhiều tổ chức từ thiện đă và đang xả thân chăm sóc, giúp đỡ, điều trị những người phong cùi trên thế giới. Với đà tiến bộ của y khoa, người ta đă hy vọng sẽ một ngày không xa, sẽ bài trừ được hết bệnh phong cùi.
Tuy nhiên, có một thứ bệnh phong cùi mà khoa học không bao giờ chữa được, đó là bệnh phong cùi của tâm hồn, đó là tội lỗi: hận thù, kỳ thị chủng tộc, ư thức hệ, bạo lực. Chính bệnh phong cùi này mới đáng sợ, v́ nó cô lập con người xa cách Thiên Chúa và cộng đoàn dân Chúa. Bệnh phong cùi này chỉ có Máu Thánh Chúa Kitô mới thanh tẩy được. Chúa Giêsu đă đến để giao ḥa vạn vật với nhau, nhờ được giao ḥa với Thiên Chúa. V́ Ngài đến để xóa bỏ tội lỗi và làm cho tất cả nhân loại được nên trong sạch, được đến gần Thiên Chúa, được nên dân Chúa. Chúa Giêsu đă chết và và sống lại để cho chúng ta được lành sạch, cho chúng ta được làm con Thiên Chúa và làm anh em hết mọi người. Không loại trừ ai và không bị ai loại trừ. Ngài đă giao ḥa vạn vật trên trời dưới đất, không c̣n loài vật sạch hay dơ, không c̣n biên giới ngăn cách chúng ta với Chúa và với mọi người. Nhưng Chúa Giêsu cũng đă để lại trong Giáo Hội các Nhiệm Tích, nhất là Nhiệm Tích Ḥa Giải là phương thế Chúa dùng để tẩy sạch bệnh phong cùi của chúng ta và giao ḥa nối kết chúng ta lại với Chúa và với mọi người, để củng cố mối dây liên kết ấy ngày càng bền chặt hơn.
Thưa anh chị em,
Chúng ta đă biết, theo luật pháp Do Thái, người mắc bệnh phong cùi phải ở riêng ngoài trại, cách ly mọi người, không được đến gần ai và cũng không ai được đến gần họ. Nhưng ở đây, với ḷng tin mănh liệt, người cùi đón đường và tiến đến bên Chúa Giêsu. C̣n Chúa Giêsu, thay v́ xa lánh bệnh nhân như luật buộc, “Ngài đưa tay ra đụng đến người phong cùi”. Đối với Chúa, không có vấn đề kỳ thị, cấm kỵ, loại trừ. Chúa là tất cả cho mọi người, không kỳ thị chủng tộc, văn hóa, giàu nghèo, bệnh tật…
Thái độ tin tưởng của người phong cùi và hành động nhân hậu của Chúa Giêsu cho chúng ta một bài học: chúng ta đừng bao giờ tự biến thành người mắc bệnh phong cùi nghĩa là đừng tự cô lập ḿnh với anh em, đừng tự giam ḿnh trong pháo đài ích kỷ, thù hận nhưng hăy biết quảng đại yêu thương bằng việc sẵn sàng quên ḿnh v́ mọi người.
Noi gương Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta hăy biết nh́n người anh em đồng loại như một “cái ḿnh khác” của chính ḿnh. Một khi nh́n nhận như thế, chúng ta phải trở nên anh em của bất cứ người nào, không trừ một ai, và phải đi đến với mọi người để phục vụ trong t́nh yêu thương. Người già cả, người nghèo khó, người bệnh tật, người cô đơn hay hèn kém… Tất cả đều kêu gọi lương tâm Kitô giáo của chúng ta, và chúng ta hăy nhớ lại Lời Chúa: “Tất cả những ǵ anh em làm cho một người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta, là anh em đă làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Chúng ta hăy nh́n nhận trong mọi người sự có mặt của Chúa Kitô. Mọi người đều là anh em mà chúng ta phải yêu mến một cách thật t́nh. Bằng chính lời nói, hành động yêu thương mà chúng ta làm chứng cho t́nh yêu của Chúa Kitô và thông hiệp với những người khác trong mầu nhiệm t́nh yêu của Cha trên trời.
Có lẽ ông bà anh chị em đă được nghe nói đến Đức Cha Jean Cassaigne, nguyên Giám Mục Giáo phận Sài G̣n của chúng ta trước đây. Sau 15 năm làm Giám Mục Sài G̣n, Đức Cha Jean Cassaigne đă t́nh nguyện về sống giữa những bệnh nhân phong cùi thân yêu của ngài ở trại phong cùi Di Linh (Lâm Đồng), trong một ngôi nhà gỗ nhỏ hẹp. Tuy không giữ một địa vị nào trước mặt xă hội, nhưng ngài thật là một người bạn của người phong cùi, một chứng nhân của t́nh yêu Thiên Chúa, một con người hy sinh phục vụ người phong cùi, chấp nhận mang lấy bệnh phong cùi của họ và chết đi ở giữa họ.
Mười tám năm trời, ngài sống trong thinh lặng giữa rừng núi thâm u, với những bệnh nhân phong cùi, không mấy ai biết đến. Nhưng khi ngài mất đi vào năm 1973, mọi người hay biết đều cảm phục tấm gương hy sinh anh dũng của ngài, ngài đáng được gọi là: “Cha của người phong cùi”.
Tấm gương bác ái cao cả đó, không phải ai cũng có thể noi theo được, nhưng trước mắt chúng ta, c̣n có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh kiểu dân Do Thái thời Cựu Ước xa lánh người phong cùi. Có khi chúng ta đă gán cho họ những nhăn hiệu thù nghịch, để rồi không bao giờ muốn tiếp xúc với họ, sợ ḿnh trở thành “cùi” như họ. Có khi chúng ta đă từ chối tiếp xúc, hợp tác với cá nhân này hay tập thể nọ, chỉ v́ họ không cùng tôn giáo hay lập trường với chúng ta. Nếu chúng ta làm như vậy là chúng ta khinh thường, làm nhục sứ mạng giao ḥa mọi người mọi vật, sứ mạng mà Chúa Giêsu đă nhận lănh từ Chúa Cha, đă thi hành bằng cách hiến mạng sống ḿnh, đổ đến giọt máu cuối cùng trong trái tim của Ngài.
Trong Thánh Lễ hôm nay, khi chúng ta tưởng niệm Mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu, mầu nhiệm là cho chúng ta được giao ḥa với Chúa và với nhau, chúng ta hăy xin Chúa giúp chúng ta luôn xa lánh tội lỗi để được hiệp thông với Chúa và với anh em, biết sống quảng đại mối giao ḥa với hết mọi người mà Chúa Giêsu Kitô đă đem đến cho chúng ta.
Con người không chỉ có nhu cầu
ăn uống, ngủ nghỉ mà c̣n nhu cầu tinh thần cũng
như nhu cầu tâm linh nữa. Nhu cầu tinh thần thể
hiện qua việc tâm sự buồn cần chia sẻ cùng
người tin tưởng, biết lắng nghe. Nềm
vui cần chia sẻ cho người khác biết để
niềm vui được trọn vẹn. Niềm vui trọn
vẹn là niềm vui được chia sẻ cho mọi
người cùng chung niềm vui với ḿnh. Niềm vui không
trọn vẹn là niềm vui bị giấu kín trong cơi ḷng.
Phải dấu kín v́ sợ. Thí dụ một người
trúng số độc đắc không giám công khai cho người
khác biết niềm vui v́ sợ niềm vui kia sẽ mang
đến hậu quả tai hại v́ thế chỉ âm thầm
vui một ḿnh.
Biết được nhu cầu cần chia sẻ cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người bị bệnh phong cùi là bệnh thời đó không thuốc chữa. Ai mắc bệnh đó coi như bị bỏ ra ngoài xă hội, bị xă hội ruồng bỏ, không cho sinh hoạt chung trong cộng đoàn. Người đó có cuộc sống dật dờ, sống cũng như chết v́ không c̣n bạn bè, thân thích. Anh ta được Đức Kitô chữa lành. Niềm vui của anh tràn ngập tâm hồn nên anh không thể cầm giữ trong ḷng mà cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Mặc dù Đức Kitô dặn anh đừng nói cho ai biết việc này cho đến khi vào đền thờ dâng lời tạ ơn nhưng anh không kiềm chế được niềm vui và để cho nó bộc phát. Có lẽ dù không lớn tiếng nói, khuôn mặt anh không dấu được niềm vui. Miệng luôn điểm nụ cười. Làn da trên người tố cáo niềm vui nội tâm, nó không c̣n sần sùi, trông đến gớm như xưa nhưng bóng nhẵn. Chính những dấu chỉ này tố cáo anh nhận được ơn đặc biệt. V́ thế khi nh́n bàn tay sạch bệnh anh không thể nào không lớn tiếng vui mừng. Soi bóng ḿnh trên nước anh không khỏi nhảy múa. Toàn thân con người anh tự tố cáo, toàn thân con người viết lên bản nhạc vui, nội tâm mừng rỡ, tấm ḷng hân hoan. Chính v́ thế mà anh không thể ḱm hăm được niềm vui.
Hàng năm tôi có cơ may nhận biết những khuôn mặt ngây thơ, rộn ră, niềm vui như thế. Đó là những khuôn mặt cười tươi, hồn nhiên, trong sáng của các em chuẩn bị tập dợt trong dịp lănh nhận bí tích Thêm Sức hay Rước Lễ lần đầu. Trên khuôn mặt thơ dại kia cũng vẽ lên niềm vui rực sáng như thế. Các em cũng tung tăng trong y phục bóng láng, cũng vui vẻ khoe nhau quần áo, lơ, giầy mới. Các em cũng bước đi đá chân sáo, nhảy nhót nhịp nhàng diễn tả niềm vui tràn đầy trong tâm hồn. Rất ít thấy niềm vui như trên thể hiện nơi người lớn. Người lớn diễn tả niềm vui rộn ràng, kín đáo hơn các em. Tôi bắt gặp người nào đó tay làm miệng hát nho nhỏ câu ca tụng t́nh Chúa. Viềm vui diễn tả nhẹ nhàng qua nốt nhạc. Tôi thấy anh nọ thanh thản trong bộ y phục, đường ủi thẳng tắp, không một vết nhăn. Cái càvạt c̣n thơm mùi vải mới. Thái độ thong thả của anh cho biết anh đang vui trong ḷng, ḷng phơi phới tiến về trung tâm chia sẻ niềm vui với mọi người. Tôi gặp cụ già, rẽ ngôi giữa đầu, quần áo chỉnh tề đến trước giờ hội hơn tiếng đồng hồ. Điều đó biểu lộ niềm vui mong chờ cụ ôm ấp trong tim.
Những niềm vui đó bàng bạc trong cuộc sống, trong những sinh hoạt tôn giáo, những dịp đại lễ, nhắc chúng ta tôn giáo không phải luôn là gánh nặng với nhiều luật lệ cứng ngắc. Tôn giáo là cánh cửa mang lại niềm vui, thức tỉnh niềm vui trong tâm hồn. Niềm vui được đánh thức, được khuếch tán rộng ra mỗi khi tâm hồn ta gặp gỡ Đức Kitô.
Anh cùi gặp Đức Kitô xin Ngài được chữa lành, làm sống lại cuộc đời ủ dột. Xă hội loài người liệt anh vào hạng vất bỏ. Đức Kitô ban cho anh sự sống với, sống vui mạnh hơn những người đón nhận ơn mưa móc, hưởng lộc từ xă hội.
Xin ơn gặp gỡ Đức Kitô, cuộc đời được biến đổi thành chuỗi ngày vui thoả.
Ngay từ thời cổ xưa, bệnh phong
cùi đă gây ra mối lo sợ cho loài người,
tương tự như mối lo sợ của người
đời nay về những bệnh nan trị như ung
thư, si-đa... Ngoài việc phải phấn đấu với
chứng bệnh huỷ hoại thân thể, người
phong cùi c̣n phải chịu một h́nh phạt thấm thía
hơn về tinh thần: đó là bị người đời
xa tránh.
Người phong cùi thời xưa phải sống tách biệt khỏi người lành mạnh. Sách Lêvi ghi lại: Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại (Lv 13:46). Nếu gặp người mạnh khoẻ ngoài đường, họ phải hô hoán lên: Ô uế (Lv 13:45) cho người khác biết mà đề pḥng. Ngoài ra người phong cùi không được phép đến nơi thờ phượng công cộng v́ bệnh phong cùi bị coi là nhơ bẩn. V́ thế mà người phong cùi trong Phúc âm hôm nay quyết tâm đến gặp Chúa để xin được chữa lành: Nếu Ngài muốn, xin Ngài cứu chữa tôi (Mc 1:40). Động ḷng thương xót, Chúa giơ tay động vào người cùi mà bảo: Tôi muốn, anh hăy được sạch (Mc 1:42).
Đọc những vần thơ của Hàn Mặc Tử, người thi sĩ trẻ tuổi tài cao mắc bệnh cùi, phải vào ở trại Qui Hoà, biểu lộ những rung cảm trong cảnh buồn tủi và sầu khổ, ta mới hiểu được nỗi đau đớn trong cảnh cô đơn thất vọng của người mắc bệnh như thế nào! Cuối cùng người thi sĩ bệnh phong đă t́m nương tựa vào Chúa và niềm an ủi nơi trinh nữ Maria.
H́nh ảnh linh mục Đa-miêng, vị tông đồ người cùi, cho thấy một đời hi sinh quên ḿnh. Khi Đức cha ở đảo Molokai giới thiệu cha Đamiêng với dân cùi ở đảo là cha t́nh nguyện đến phục vụ họ. Cha Đamiêng rởn tóc gáy khi nh́n thấy họ đến sờ vào thân ḿnh cha. Đức cha giải thích cho cha Đamiêng là họ không thể hiểu nổi tại sao một người ở phương xa từ Bỉ quốc, không liên hệ ǵ với họ, lại c̣n trẻ, đẹp trai, không bệnh tật như họ, lại có thể đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này. Họ không tin mắt nh́n của ḿnh nên mới đến sờ thử vào người cha, xem cha có thực sự mắc bệnh cùi không? Rồi họ nói với nhau: Không. Dần dần cha Đamiêng hoà đồng được với họ và không c̣n cảm thấy ghê tởm như ngày đầu. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh cùi.
Một vị tông đồ khác, Đức cha Cassaigne, từ chức tổng giám mục Sàig̣n để lên phục vụ người cùi ở Di Linh. Đức cha viết thư về Pháp kể lại: khi những ung nhọt bắt đầu lở loét, khiến người xung quanh tởm ghớm, người cùi không tự giúp ḿnh được nữa, th́ dân làng đưa họ vào xó rừng, để người cùi ở lại đó một ḿnh, cô đơn, hiu quạnh, đói khổ mà chết dần chết ṃn. Cuối cùng Đức Cha Cassaigne cũng chết v́ mắc bệnh cùi.
T́nh yêu Chúa c̣n thúc đẩy những nữ tu và giáo dân như Sơ Maria Goretti và chị Anna Xuân đă phục vụ những trại cùi ở quê nhà. Nữ tu Nguyễn Thị Khuyên sau hai mươi năm săn sóc người cùi ở trại Ja Lai, Kông Tum cũng mắc bệnh mà chết. Năm 1963, báo chí Sàig̣n loan tin về một chiêu đăi viên trẻ đẹp, hăng máy bay PANAM Mỹ, t́nh nguyện sang phục vụ người cùi ở trại Di Linh sáu tháng. Đến xin ư kiến Giám mục Fulton Sheen xem cô phải làm ǵ để tạ ơn Thiên Chúa cho sắc đẹp của cô như Đức Cha đă có lần khen và hỏi xem cô đă làm ǵ để tạ ơn Chúa. Bất chợt không sửa soạn, Đức Cha đề nghị cô nên sang Việt Nam giúp Đức Cha Cassaigne phục vụ người cùi ở đây một thời gian để làm dịu bớt những đau khổ và lẻ loi của người xấu số. Thất vọng về lời đề nghị, cô bỏ ra về mà không thèm chào. Nhờ suy nghĩ và cầu nguyện, cuối cùng cô đă chấp nhận ra đi.
Hiện nay vẫn c̣n có những trại phong cùi trên thế giới. Năm 2005, con số khai báo cho Liên hiệp quốc là 47.596 người mắc bệnh phong cùi ở Phi châu, 36.877 ở Mỹ châu, 5.398 ở miền tây Đia Trung Hải, 186.182 ở Đông Nam Á châu gồm Việt nam với 28 trại phong cùi và 10.010 ở phía Tây Thái B́nh Dương. Ngày nay vẫn c̣n có những linh mục, nữ tu, và giáo dân t́nh nguyện phục vụ họ. Vào Ngày Phong Cùi Thế Giới 29 tháng 01, 2006 Đức giáo hoàng Bênêđítô XVI cho rằng nguyên nhân của bệnh phong cùi là do sự nghèo đói và kêu gọi cộng đồng quốc tế t́m cách diệt trừ mầm mống của bệnh này. Có dịp đi thăm một trại phong cùi, với cặp mắt quan sát bệnh nhân cũng như những người phục vụ họ, cùng với đầu óc suy tư và ghi nhận, ta sẽ thấy đời sống thay đổi. Rồi sẽ thấy ḿnh bớt phạm tội trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Và rồi ḿnh cũng sẽ tự hỏi ḿnh xem yếu tố nào đă thúc đẩy những người này dám hi sinh quên ḿnh để phục vụ họ như vậy?
Giới tu đức học và dẫn đàng thiêng liêng thường ví tội lỗi như một thứ bệnh cùi thiêng liêng. Nếu bệnh cùi thể xác khiến người ta bị cô lập hoá về phương diện thể lư, th́ bệnh cùi thiêng liêng là tội lỗi, cũng khiến người ta bị cô lập về đời sống thiêng liêng. Tội làm sứt mẻ t́nh bạn với Chúa và tha nhân. Có những tội khiến ta không c̣n dám đến nhà thờ và lên rước lễ. Tội c̣n làm sứt mẻ t́nh bạn, t́nh cộng đồng. Có những tội khiến người ta muốn tránh, không muốn gặp người khác v́ mắc cở. Người khác cũng không muốn gặp họ v́ không muốn gợi lại những kỉ niệm đau ḷng quá khứ và không muốn trở thành nạn nhân lần thứ hai.
Để được thoát khỏi cảnh tuyệt vọng, người phong cùi đă t́m đến Chúa để xin được ơn chữa lành. Bệnh nhân đă không để cho thất vọng chi phối. Anh ta đă đến kêu cầu với Chúa. Điều mà người mắc bệnh cùi thiêng liêng cần có là đức tin và ḷng cậy trông như niềm tin cậy của người phong cùi vào quyền năng và ḷng thương xót của Chúa. Để có thể nại đến ḷng thương xót và quyền năng của Chúa, người ta phải nhận ḿnh có bệnh hoặc có tội. Người không nhận ḿnh có bệnh hay có tội, th́ không t́m đến thầy thuốc. Họ là những người vô phương cứu chữa.
Lời cầu nguyện cho bệnh nhân phong và những người phục vụ họ:
Lạy Chúa, Chúa đă đến chữa người phong cùi thuở xưa.
Xin Chúa cũng chữa bệnh phong trong thời hiện đại,
ban cho bệnh nhân ḷng tin cậy, phó thác vào Chúa.
Xin soi sáng cho giới bác sĩ và khoa học gia
để họ t́m ra thuốc men và cách thế trị bệnh.
C̣n những người phục vụ bệnh nhân,
xin Chúa là nguồn sức mạnh và kiên nhẫn của họ
và ǵn giữ họ khỏi bị nhiễm bệnh. Amen.
(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’
– Achille Degeest.)
Khi mới đọc qua, đoạn Phúc âm này làm chúng ta ngạc nhiên v́ một sự tương phản: Chúa Giêsu có hai thái độ trái ngược nhau. Chúa Giêsu vừa cảm động, xót thương người cùi, vừa xua đuổi anh, và ngược đăi anh. Đoạn này khiến ta phải suy nghĩ về ḷng nhân hậu của Chúa Giêsu, ḷng nhân hậu vừa nhạy cảm lại vừa cương quyết.
1) Chúa Giêsu dễ cảm xúc, ‘Động ḷng thương, Chúa Giêsu giơ tay sờ đến người ấy mà phán bảo: Ta muốn, ngươi hăy lành bịnh’. Chúa Giêsu đă xúc cảm cách rất nhân loại. Ḷng từ bi vô biên của Chúa ‘Giêsu-làm-người’ không phải chỉ là một sự hảo tâm, tuy hiệu nghiệm nhưng xa vời. Trong sự mầu nhiệm Nhập thể, Thiên Chúa đă truyền thông ḷng từ bi vô biên của Người bằng sự rung cảm của một con tim thật sự nhân loại, trái tim của Chúa Giêsu. Ḷng từ bi đó trở thành một sự cảm xúc rất nhân loại, nó biến thành ḷng xót thương khi đứng trước sự đau khổ, nghĩa là thành khả năng có thể ‘cùng đau khổ’. Chúa Giêsu đau khổ trước sự đau khổ của người phung cùi khi anh này đến với Người. Hơn nữa, v́ Người thương con bịnh, nên nỗi đau khổ của y làm cho Người khó chịu hơn chính sự đau khổ của Người. Khi người ta yêu ai thực sự, nếu người này đau khổ, người ta muốn mang lấy sự đau khổ cho kẻ ấy để giải thoát cho y. Chúa Giêsu không chữa cho người phung cùi bằng một hiệu quả của quyền-lực-toàn-năng Người. Người cúi xuống sát con bịnh đang quỳ dưới chân Người. Người đáp ứng lời van xin của y bằng một cử chỉ từ bi nhân hậu đi xa đến độ vi phạm cả một giới răn Lề Luật. Người chạm đến bịnh nhân cùi bằng tay Người. Chỉ một cử chỉ đó cũng đủ gây bối rối cho bịnh nhân mà một trong những đau khổ lớn lao nhất trong đời họ là cảm thấy bị loại ra khỏi xă hội loài người, những đồng loại không c̣n muốn tới gần họ nữa chứ đừng nói chi đến sự ch́a tay ra cho họ. V́ họ là người không ai muốn sờ mó, đụng chạm tới. Như vậy là ḷng từ bi của Chúa không những đă hữu ích cho họ bằng cách chữa họ lành đă, mà c̣n nâng họ lên hàng cao, bằng cách phục hồi danh dự địa vị cho họ, bằng cách trả lại cho họ danh dự con người. Chúng ta ghi nhớ điểm Chúa Giêsu đụng đến người cùi trước khi y lành đă, và cử chỉ ấy đă chữa y khỏi căn bịnh. Ḷng từ nhân của chúng ta có thực sự động ḷng xót thương, gần gũi sự đau khổ, chấp nhận hoặc phục hồi cho tha nhân nhân phẩm của họ chăng? Một ḷng từ nhân như vậy lắm khi mang trong bản chất nó quyền lực chữa lành một số bịnh tật.
2) Chúa Giêsu cương quyết. Nhưng rồi ngược đăi y, Chúa Giêsu liền xua đuổi y mà bảo: Coi chừng đừng nói ǵ với ai. Chúa Giêsu không muốn ai tiếp nối những cử chỉ từ bi của ḿnh bằng những t́nh cảm giả vờ hoặc thái quá. Trái lại là khác. Người không bao giờ rời mắt khỏi những lợi ích cao cả của sứ mạng Người. Không bao giờ Người chấp nhận cho một quyền lợi riêng tư đi ngược lại với quyền lợi tổng quát. Trong trường hợp hiện tại, sự lợi ích của sứ mạng Người đ̣i hỏi 1 hành động tiến dần đến mục đích tối hậu là: mọi người nhận ra Người, Chúa Giêsu, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu thế. Trước các phép lạ Người làm, khi Người khởi đầu ra đi thi hành sứ mạng, những người tốt có thể coi Người như một nhân vật được thiên phú một quyền năng phi thường, không hơn không kém. Nhưng Chúa Giêsu cương quyết muốn rằng các phép lạ Người làm tiên vàn phải là chữ kư của Lời Người. Trước hết, Người muốn ban Lời Người. Đối với Người, điều quan hệ, không phải là sự nổi tiếng về quyền năng chữa bệnh của Người, nhưng là sức mạnh cứu độ của Lời Người. Vậy Lời ấy là nguồn gốc ơn cứu độ ở chỗ nào? Ở chỗ là Lời ấy kêu gọi con người hăy có lấy một sự tuyên xưng đức tin. Ḷng tin vào Lời và Con Người của Chúa Giêsu mở cửa cho ơn cứu độ. Khi hắt hủi người cùi được chữa lành v́ ḷng từ nhân của Người, Chúa Giêsu không muốn bịnh nhân làm phương hại đến sứ mạng của Người bằng một niềm hân hoan thiếu kín đáo. Người không muốn sự chữa lành phần xác bao vây trí óc kẻ đương thời thu hẹp khả năng chữa lành bệnh của quyền năng Người. Người đă đến để loan báo Nước Thiên Chúa và chính trên sự loan báo ấy, Người muốn tập trung mọi tâm hồn và con tim, các phép lạ chỉ là một trong những ngôn ngữ của sự loan báo ấy. Thửa đất thực sự của ḷng nhân từ Chúa chính là ơn Cứu chuộc mà chúng ta tiếp nhận bằng đức tin.
Căn bệnh đáng sợ nhất đối
với dân Do thái ngày xưa chính là bệnh cùi. Nó như
cơn đại dịch truyền nhiễm gieo rắc biết
bao khiếp sợ cho những nạn nhân của nó v́ hồi
ấy không có hy vọng cứu chữa. Số phận của
người bị bệnh cùi thực sự rất
đáng thương. Ngay khi phát hiện các dấu hiệu của
bệnh, người bệnh bị cách ly khỏi mọi
đời sống xă hội và bị ép buộc phải trốn
tránh xă hội. Điều này có nghĩa là người bệnh
phải thốt ra lời từ biệt gia đ́nh, bỏ
lại sau lưng tất cả cuộc sống nghề
nghiệp và tất cả mọi người thân
thương quen biết. Một lần vĩnh biệt
như là đă chết. Tâm trạng âu lo hoảng loạn và
nỗi đau ḷng khổ tâm v́ bị loại trừ hoàn
toàn ra khỏi cộng đồng xă hội phải nói thật
là có sức tàn phá khủng khiếp. Ở mọi
phương diện, người cùi là một người
bên lề xă hội, không chút hy vọng nào được
hưởng t́nh thân hữu của bè bạn huốn ǵ
đến việc đón nhận t́nh yêu. Nạn nhân không
c̣n được coi như là con người nữa, phải
bới t́m thức ăn trong những đống rác ngoài
thành, luôn đeo lủng lẳng một cái chuông quanh cổ
để báo cho người ta tránh xa. Hơn nữa theo
quan niệm Do Thái bệnh tật là một h́nh phạt bởi
tội lỗi mà ra và là dấu chỉ bị tách xa khỏi
Thiên Chúa quyền năng, Đấng trao ban sự sống.
Mỗi khi dân Do thái không trung tín với Giavê Thiên Chúa, Tiên tri
Ysaia đă dùng bệnh phong cùi làm biểu tượng ám chỉ
t́nh trạng bệnh hoạn của dân trầm kha đến
mức nào.
Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Chúa Giêsu rất là xúc động cảm thông khi gặp người phong cùi. Ngài không sợ giơ tay ra động chạm vào họ. Đây là lần duy nhất trong số những lần tiếp xúc giữa Chúa và người bệnh mà Ngài tỏ ra động ḷng trắc ẩn rơ ràng nhất. Điều này nói lên một điều ǵ đó sâu xa nơi Con Người đang-ra-tay-chữa-lành kia, như là dấu chỉ của ḷng thương xót, đồng thời giúp chúng ta nh́n sâu vào trong ḷng thương xót của Thiên Chúa luôn quan tâm chăm sóc mọi thứ bệnh tật phần xác cũng như phần hồn.
Điều đáng nói là chúng ta phải nh́n đến thứ bệnh cùi thiêng liêng như là một thực tế của mọi thời đại. Nó khu trú trong những tâm hồn băng hoại làm chúng ta phải chia ĺa với Thiên Chúa, và c̣n nghiêm trọng hơn là bệnh cùi thiêng liêng không ai thấy và trong suốt một thời gian dài cũng chẳng ai hay. Tin vui đích thực dành cho tất cả chúng ta là cũng y như ngày xưa Đức Chúa Giêsu giơ tay ra chạm tới và chữa lành người cùi, th́ ngày nay Ngài cũng sẽ giơ tay ra cứu vớt chúng ta, chữa lành băng bó tất cả những vết thương tội lỗi chúng ta.
Nếu ngày xưa bệnh cùi bị xem là một thứ bệnh dịch khủng khiếp th́ ngày nay bệnh AIDS đang đe doạ sinh mạng biết bao người trên thế giới. Điều mà người ta thường quên mất là họ vẫn là một con người v́ thế trong khi đang chết dần ṃn v́ vẫn chưa có thuốc chữa, hay vắc-xin chủng ngừa chống lây lan, những người bệnh AIDS nhiều khi bị xa lánh, bị xem thường, bị coi là đáng kiếp với số phần thịnh nộ của Thiên Chúa. Là môn đệ đích thực của Ngài, chúng ta đă được sai đi để chữa lành, để giải hoà và yêu thương vô điều kiện. Quyền năng của Thiên Chúa nơi bản năng thiện hảo của người môn đệ Đức Kitô sẽ có dịp vươn ra chạm đến những tâm hồn bằng nhiều cách không sao giải thích được. Trong khi chúng ta cảm thấy phẫn nộ bất b́nh như bị xúc phạm trước phong cách cư xử với người phong cùi thời trước, th́ ngày nay nếu như có nhu cầu kêu gọi, liệu người ta có hy vọng là chúng ta sẽ đem đến cho một căn bệnh AIDS khủng khiếp những cảm thông xoa dịu chữa lành của Đức Kitô?
Trong xă hội Do Thái lúc bấy giờ, người
ta phải sợ hăi khi chứng kiến những cơn bệnh
hiểm nghèo như bệnh cùi. Chẳng những nó cướp
đi mạng sống của con người, mà nó lại
c̣n gây ra biết bao đau đớn về thể xác, về
tinh thần và đặc biệt trong xă hội lúc đó
người cùi bị đẩy ra bên ngoài xă hội, không
được tham gia sinh hoạt như những người
b́nh thường khác. Một người cùi đến xin
Chúa Giêsu chữa lành trong bài Tin Mừng (Mc 1, 40 - 45) hôm nay phần
nào cho thấy điều ấy.
Bị đẩy ra bên ngoài xă hội, người cùi này rất tủi hổ, khổ sở. Khi ấy người cùi không c̣n được coi như "một con người". Chúa Giêsu hiểu rơ hoàn cảnh đó nên Người không thể bỏ qua cơ hội chữa lành này cho người cùi này.
"Nếu Ngài muốn, Ngài cho tôi nên sạch" (Mc 1, 40). Lời van xin thống thiết nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào Đấng mà anh ta van xin. Anh ta tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Anh ta hiều rằng người này là "chiếc phao cuối cùng, bác sĩ cuối cùng.." để có thể giúp đỡ cho anh ta. Người cùi thốt lên được lời van xin nầy v́ anh ta nhận ra được t́nh trạng hiện tại của ḿnh, anh ta cảm nhận được tất cả nỗi thống khổ mà ḿnh đang mang. Anh ta mong muốn thoát khỏi nó: anh muốn thoát khỏi những đau đớn của thể xác lẫn tinh thần, anh muốn thoát khỏi nỗi cô đơn để có thể hoà nhập được với cộng đoàn. Anh càng mong muốn hơn cho ḿnh được trở nên tinh sạch như mọi người, bản thân anh cũng không chấp nhận được t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh. Ước muốn và hành động để thực hiện điều đó. Anh vượt qua mọi trở ngại và đến với Chúa Giêsu, trở ngại của căn bệnh, anh vượt trở ngại của đám đông, trở ngại của sự e dè trước những luật lệ của xă hội.
Chúa Giêsu nh́n thấy nỗi ḷng của anh. Ngài ban cho anh những ǵ cần thiết để anh được tinh sạch, trở về cuộc sống đời thường: "Ta muốn, anh hăy trở nên sạch". Người đă ban một phép lạ cho anh. Đó hẳn là một Hồng Ân hết sức lớn lao cho anh.
Thiên Chúa cũng muốn cho hết mọi người cũng được như thế. Ngài cũng đang nói với mỗi người chúng ta: "Ta muốn, con hăy trở nên lành sạch". Nhưng những ǵ Thiên Chúa muốn, có phải là những ǵ mà chúng ta cũng đang muốn? Hay những ǵ Ngài muốn, mà đành phải chờ đợi v́ không thấy con người đến với Ngài để Ngài thực hiện ư muốn.
Mỗi người trong chúng ta hăy nh́n vào t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh. Mỗi người đang mang một căn bệnh của thời đại, căn bệnh truyền nhiễm, hiểm nghèo hơn mà không ai có thể đến gần được, căn bệnh làm cho ḿnh phải chết dần chết ṃn theo năm tháng, căn bệnh làm cho chúng ta không thể hoà nhập được với mọi người. Cũng chính căn bệnh đó làm cho con người trở nên cô đơn tuyệt vọng. Nhưng chúng ta có nh́n thấy, có nhận ra t́nh trạng hiện tại của ḿnh không? Nếu chúng ta biết cố gắng, muốn thoát khỏi những đau khổ của hiện tại mà biết t́m đến với Chúa, cầu xin và vâng theo thánh ư Chúa. Nếu mỗi người biết thực hiện ư muốn ngay lành của ḿnh, mà đến trước mặt Chúa với ḷng chân thành, th́ t́nh trạng hiện tại của chúng ta có lẽ khá hơn bây giờ nhiều lắm.
Xin Chúa cho chúng ta biết nhận ra t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh, biết siêng năng đến với Chúa, cụ thề là qua bí tích Giải tội và bí tích Thánh Thể để Ngài làm cho chúng ta được trở nên tinh sạch hơn. Hằng ngày Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta trong cơi ḷng. Chỉ cần một chút cố gắng, một ḷng mến thật sự, Chúa sẽ thực hiện phép lạ đó cho mỗi người trong chúng ta. Phương thế chữa lành và bồi dưỡng hữu hiệu vẫn là Bí Tích Giải Tội và Thánh Thể.
Con người luôn muốn được
khoẻ mạnh, sống chan hoà với mọi người
trong xă hội. Cho nên, hôm nay phúc âm kể lại việc Chúa
Giêsu đă chữa bệnh cho một người cùi,
đem anh ta trở về với Thiên Chúa, trở về với
chính ḿnh và trở về gia nhập vào đời sống cộng
đoàn.
Thời Chúa Giêsu, y học chưa phát triển nên bệnh cùi là một bệnh nan y. Bệnh cùi gây nhiều khổ đau, khổ sở cho người mắc phải. Nó làm cho cơ thể người bệnh đau đớn nhức nhối, chết dần chết ṃn. Hơn thế nữa, nó c̣n là một chứng bệnh dễ lây, v́ thế người ta thường cô lập những kẻ mắc phải chứng bệnh này ở một nơi riêng, không cho tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong đạo Do Thái, người mắc bệnh này bị gạt ra ngoài lề xă hội. Họ không được sống chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc. Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến đâu cũng phải kêu to lên: "ô uế, ô uế" cho mọi người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với người bệnh cùi đều bị coi là ô uế. Ai đụng chạm vào người bệnh này bị coi như mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần người cùi. Thế nên ta thấy cảm thương và đau xót cho người cùi. Bởi lẽ người cùi không những bị những vết thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà c̣n bị những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt. Họ bị xă hội khinh dễ và loại trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày ṿ. Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống mà bị coi như đă chết. Nhưng chưa chết được, họ vẫn phải tiếp tục sống để chịu những nỗi đau đớn c̣n hơn cả cái chết ảnh hưởng dần dần.
Nỗi đau khổ tệ hại nhất của người cùi không phải là căn bệnh cùi gây ra, nhưng chính là nỗi đau bị tất cả mọi người ruồng bỏ. Do đó, chúng ta không lạ ǵ khi biết người cùi mặc cảm chán nản sợ sệt. Họ thất vọng về chính bản thân ḿnh, họ chán nản và căm ghét xă hội đă bỏ rơi họ, xă hội đă cách ly và tránh xa họ. Hơn nữa, người mắc bệnh cùi không được cử hành việc tế tự. Họ mắc bệnh th́ không được ở trong cộng đoàn để lo phụng sự Thiên Chúa. Từ những dữ kiện trên cho ta thấy những người cùi khao khát được lành sạch, thoát khỏi bệnh tật để được sống tự do sinh hoạt như những người khoẻ mạnh khác, được sống chung với cộng đoàn và cũng được thi hành việc tế tự thờ phượng Thiên Chúa theo bổn phận ḿnh.
Chính niềm khát khao đó và cộng thêm niềm tin nên người cùi này hết sức can đảm đến xin Chúa Giêsu chữa lành cho ḿnh. Người cùi đă làm một điều táo bạo vượt ra ngoài luật lệ cho phép. Điều duy nhất khiến anh ta có can đảm để làm như vậy, đó là ḷng tin vào Chúa Giêsu, một người mà anh đă được nghe nói đến. Anh ta không sợ ḿnh làm cho Ngài bị dơ bẩn, nhưng anh ta hy vọng chính Ngài sẽ làm cho anh được sạch. Ḷng tin này khiến anh quỳ gối xuống trước mặt Ngài và kêu van: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi nên sạch".
Anh mong được khỏi bệnh. Anh mong được làm một con người b́nh thường, nối lại những liên hệ với xă hội. Anh tin là Ngài có thể làm được. Trước niềm tin này Chúa Giêsu đă động ḷng thương, Ngài đă chữa anh ta. Ngài trả lại cho anh ta toàn bộ những ǵ đă mất. Kết quả của đức tin và sự nỗ lực hết ḿnh là phép lạ của Chúa Giêsu xảy ra cho anh.
Khi chữa bệnh, Chúa Giêsu đă giải thoát anh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay anh không c̣n bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành sạch. Anh được gia nhập cộng đoàn. Khi chữa anh khỏi bệnh, Chúa Giêsu đồng thời cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn anh bao năm tháng qua. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đă liền da lành lặn. Chúa Giêsu đă hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh. Anh đă được Thiên Chúa tái tạo con người tốt đẹp như thuở ban đầu trong ư định của Thiên Chúa. Bên cạnh đó, một lần nữa, Chúa Giêsu lại vượt qua những biên giới cấm kỵ khi dám đến gần người cùi. Không những Ngài đến gần mà c̣n đưa tay chạm vào thân ḿnh bệnh nhân. Ḷng thương xót đă khiến Chúa Giêsu dám làm tất cả. V́ thương người bệnh, Chúa Giêsu đă bất chấp nguy hiểm bị lây nhiễm, đă bất chấp những điều bị coi là cấm kỵ của đạo Do Thái. Ḷng thương xót của Thiên Chúa luôn dành cho con người nhữg điều tốt đẹp nhất.
Có thể nói h́nh ảnh của bệnh cùi cũng chính là h́nh ảnh tượng trưng cho tội lỗi. Bởi v́ tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta trở nên xấu xa trước mắt Thiên Chúa. Nó cũng làm cho tâm hồn chúng ta bị băng hoại và sau cùng giết chết sự sống của Thiên Chúa, sự sống ân sủng trong chúng ta. Đồng thời, tội lỗi c̣n là như một chứng bệnh truyền nhiễm, do gương mù gương xấu của chúng ta mà nó sẽ lây lan sang những người chung quanh. Ngày nay, người ta mất ư thức về tội. Người Kitô hữu coi phạm tội là việc b́nh thường. Người ta cứ phạm tội. Tội lỗi mỗi ngày một nhiều hơn, nó tràn ngập khắp nơi. Nó ảnh hưởng xấu đến đời sống vật chất, tinh thần và cuối cùng là sự chết. Tội lỗi làm cho chúng ta mất liên lạc. Tội lỗi làm cho con người không hiệp thông với chính ḿnh, với tha nhân và với Thiên Chúa. V́ thế, sau khi đă tái nhận biết sự nặng nề và xấu xa của tội lỗi là như thế, chúng ta hăy quyết tâm thà chết chẳng thà phạm tội mất ḷng Chúa.
Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xă hội, Chúa Giêsu bảo anh đi tŕnh diện với thượng tế theo như luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra ngoài lề xă hội. Nay anh được bàn tay âu yếm ân cần của Chúa Giêsu đón nhận anh trở lại xă hội loài người. Qua vị thượng tế, anh được công khai đón nhận. Nhân phẩm anh được phục hồi. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người, như mọi người. Phần chúng ta, là người Công giáo, chúng ta phạm tội, Chúa Giêsu cũng nhắc nhở chúng ta hăy sám hối, khiêm nhường nh́n nhận tội lỗi của ḿnh và can đảm đi xưng tội. Nhờ đó chúng ta sẽ được Chúa tha thứ. Bởi v́ bí tích Giải tội chính là Bí tích của ḷng thương xót của Thiên Chúa. Và ṭa Giải tội chính là nơi để chúng ta gặp gỡ và làm ḥa cùng Thiên Chúa. Chắc trong chúng ta ít nhiều ai cũng có những mặc cảm đè nặng tâm hồn, có những vết thương sâu kín, những nỗi buồn hầu như không ai thông cảm an ủi được. Hăy noi gương người bệnh phong chạy đến với Chúa Giêsu. Ngài sẽ xóa đi những mặc cảm đè nặng hồn ta. Người sẽ chữa lành những vết thương bao năm gặm nhấm trái tim ta. Người sẽ xoa dịu những nỗi đau ṿ xé tâm tư. Người sẽ an ủi những nỗi buồn phủ kín hồn ta. Hơn nữa, bắt chước Chúa Giêsu, chúng ta không loại trừ anh em ḿnh ra khỏi ḷng ḿnh, khỏi xă hội. Hăy can đảm và vui ḷng đến với những người bị bỏ rơi, biết an ủi những người đang buồn khổ, biết tránh cho tha nhân những mặc cảm nặng nề, tôn trọng danh dự và nhân phẩm của tha nhân, giúp cho tha nhân được ḥa nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xă hội. Chúng ta hăy mạnh dạn diệt trừ bệnh chia rẽ, loại trừ, phân biệt, nghi kị... anh em ḿnh.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám ơn Chúa đă chữa lành người cùi trong đoạn phúc âm hôm nay. Xin Chúa cũng chữa lành những thương tích do tội lỗi đang phá hoại linh hồn chúng con. Xin cho chúng con can đảm đến với Bí tích Giải tội để được tha thứ, để đón nhận ḷng thương xót và ân sủng của Chúa. Đồng thời, xin cho chúng con không loại trừ tha nhân nhưng luôn biết thương yêu và giúp đỡ họ. Amen.
Khi nhận được tin vui sẽ có hai
sự kiện xảy ra trong tim ta. Một là niềm vui làm
cho tim ta thổn thức khôn nguôi. Một khi niềm vui làm
cho con tim thổn thức th́ con tim không thể cầm giữ
niềm vui rộn ràng đó cho chính nó nhưng nó đ̣i
được bộc phát ra, chia sẻ với thân nhân, thân
hữu. Điều ḱ lạ là càng chia sẻ niềm vui th́
niềm vui đó càng lớn mạnh và rộn ràng hơn.
Đây chính là kinh nghiệm bản thân anh chàng mắc bệnh
phong hủi trong sách Thánh Macô 1-40-50. Thời đó ai mắc
bệnh cùi hủi coi như đời tàn v́ không những bệnh
nan y mà c̣n bị loại ra khỏi cộng đoàn đang sống.
Bệnh khiến mọi người kinh tởm, sợ,
tránh xa v́ sợ lây bệnh nên đẩy người bệnh
ra khỏi cộng đoàn. Một hiểu lầm tai hại,
giết người đáng tiếc là xă hội thời
đó liệt kẻ bệnh vào hàng tội lỗi, bị
trừng phạt bệnh nan y.
Người phong hủi gặp Đức Kitô và xin Ngài chữa lành. Đức Kitô tỏ ḷng thương chữa anh lành bệnh. Ngài dặn anh giữ im lặng đừng nói cho công chúng nhưng báo cho linh mục và dâng lễ vật tạ ơn. Báo cho linh mục để anh được công nhận và đón trở về cộng đoàn. Dâng lễ vật tạ ơn để nói lên tâm t́nh tạ ơn của anh với Thiên Chúa. Niềm vui của anh quá lớn, trào dâng anh đă làm nửađiều Đức Kitô dặn, dâng lễ vật, c̣n im tiếng th́ không. Anh lên tiếng ca tụng Thiên Chúa trước đám đông. Kết quả của việc không vâng lời dẫn đến hậu quả.
(Đức Kitô) không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người c.45
Đức Kitô ngăn cấm người phong hủi nói về Đức Kitô v́ anh không biết rơ Ngài lài ai. Thực ra không phải ḿnh anh mà hầu như không ai biết rơ về Đức Kitô và sứ mạng của Ngài. Người gọi Ngài là tiên tri đại tài; kẻ khác bác sĩ lừng danh; người nữa một thanh niên đạo đức; một số cho Ngài là nhà lănh đạo đầy triển vọng xuất hiện đến giải thoát dân chúng khỏi ách đô hộ của hoàng đế Roma. Đức Kitô xuống thế không phải làm những điều như người ta tưởng. Sứ mạng của Ngài là mang t́nh yêu Chúa đến tha nhân. Sứ mạng Ngài là đem con người ra Ánh Sáng thoát bóng tối sự chết. Sứ mạng Ngài là giải thoát con người khỏi nô lệ của ma quỉ. Sứ mạng Ngài là dậy con người biết vâng phục Thánh Ư Chúa Cha.
Đức Kitô ngăn cấm người phong hủi nói về Người bởi thời gian được chọn mặc khải Đức Kitô là ai là do chính Đức Kitô chọn, không phải ma quỉ hay con người có quyền chọn lựa mà Chính Chúa. V́ thế Đức Kitô ngăn cấm ma quỉ nói Ngài là ai. Thiên Chúa là Đấng duy nhất quyết định khi nào đến lúc mặc khải về Ngài. Ngày nay chúng ta biết thời gian mặc khải Đức Kitô là Con Thiên Chúa xảy ra sau Phục Sinh. Sau khi chịu khổ h́nh thập giá và sống lại vinh quang là lúc Đức Kitô tỏ vinh quang của Ngài một cách rơ ràng cho muôn dân. Đức Kitô dậy các môn đệ làm điều đó khi sai các ông đi rao giảng về Đức Kitô.
Có lẽ những ai đă từng biết người bị phong hủi trước kia nay thấy anh b́nh phục mừng thay cho anh và cùng với anh loan tin vui đó cho mọi người. C̣n người đi đường không biết khi thấy anh vui mừng, rạng rỡ. Họ kinh ngạc và hỏi nhau điều chi làm cho con người mạnh khoẻ vui hơn hội xuân thế. Đức Kitô không những chữa anh lành bệnh mà c̣n phục hồi chức vị thành viên cộng đoàn, ban cho anh đời sống mới, con tim hoan lạc và ban thêm niềm tin nhỏ xíu của anh thành một người đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô.
Chúng ta đừng ngạc nhiên khi cầu xin Đức Kitô chữa bệnh cho ḿnh hoặc thân nhân mà có khi lời cầu xin được nhận lời; khi không được Chúa đáp ứng. Đức Kitô chữa bệnh để tỏ lộ quyền năng của Thiên Chúa trên bệnh tật và sự dữ, thần ác. Sứ mạng cao cả của Đức Kitô là ban ơn cứu độ cho muôn dân, giải thoát họ khỏi xiềng xích tội lỗi và chỉ dẫn con đường về cùng Chúa Cha. Đấng có quyền quyết định cho ǵ, cho bao nhiêu, lúc nào thuộc về Chúa là Đấng ban phát, không phải kẻ xin là chúng ta có quyền quyết định. Kẻ xin chỉ biết đón nhận với tâm t́nh tạ ơn, miệng cao rao ca tụng Thiên Chúa, như người phong hủi đă làm.
Con người không chỉ có nhu cầu
ăn uống, ngủ nghỉ mà c̣n nhu cầu tinh thần cũng
như nhu cầu tâm linh nữa. Nhu cầu tinh thần thể
hiện qua việc tâm sự buồn cần chia sẻ cùng
người tin tưởng, biết lắng nghe. Nềm
vui cần chia sẻ cho người khác biết để
niềm vui được trọn vẹn. Niềm vui trọn
vẹn là niềm vui được chia sẻ cho mọi
người cùng chung niềm vui với ḿnh. Niềm vui không
trọn vẹn là niềm vui bị giấu kín trong cơi ḷng.
Phải dấu kín v́ sợ. Thí dụ một người
trúng số độc đắc không giám công khai cho người
khác biết niềm vui v́ sợ niềm vui kia sẽ mang
đến hậu quả tai hại v́ thế chỉ âm thầm
vui một ḿnh.
Biết được nhu cầu cần chia sẻ cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người bị bệnh phong cùi là bệnh thời đó không thuốc chữa. Ai mắc bệnh đó coi như bị bỏ ra ngoài xă hội, bị xă hội ruồng bỏ, không cho sinh hoạt chung trong cộng đoàn. Người đó có cuộc sống dật dờ, sống cũng như chết v́ không c̣n bạn bè, thân thích. Anh ta được Đức Kitô chữa lành. Niềm vui của anh tràn ngập tâm hồn nên anh không thể cầm giữ trong ḷng mà cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Mặc dù Đức Kitô dặn anh đừng nói cho ai biết việc này cho đến khi vào đền thờ dâng lời tạ ơn nhưng anh không kiềm chế được niềm vui và để cho nó bộc phát. Có lẽ dù không lớn tiếng nói, khuôn mặt anh không dấu được niềm vui. Miệng luôn điểm nụ cười. Làn da trên người tố cáo niềm vui nội tâm, nó không c̣n sần sùi, trông đến gớm như xưa nhưng bóng nhẵn. Chính những dấu chỉ này tố cáo anh nhận được ơn đặc biệt. V́ thế khi nh́n bàn tay sạch bệnh anh không thể nào không lớn tiếng vui mừng. Soi bóng ḿnh trên nước anh không khỏi nhảy múa. Toàn thân con người anh tự tố cáo, toàn thân con người viết lên bản nhạc vui, nội tâm mừng rỡ, tấm ḷng hân hoan. Chính v́ thế mà anh không thể ḱm hăm được niềm vui.
Hàng năm tôi có cơ may nhận biết những khuôn mặt ngây thơ, rộn ră, niềm vui như thế. Đó là những khuôn mặt cười tươi, hồn nhiên, trong sáng của các em chuẩn bị tập dợt trong dịp lănh nhận bí tích Thêm Sức hay Rước Lễ lần đầu. Trên khuôn mặt thơ dại kia cũng vẽ lên niềm vui rực sáng như thế. Các em cũng tung tăng trong y phục bóng láng, cũng vui vẻ khoe nhau quần áo, lơ, giầy mới. Các em cũng bước đi đá chân sáo, nhảy nhót nhịp nhàng diễn tả niềm vui tràn đầy trong tâm hồn. Rất ít thấy niềm vui như trên thể hiện nơi người lớn. Người lớn diễn tả niềm vui rộn ràng, kín đáo hơn các em. Tôi bắt gặp người nào đó tay làm miệng hát nho nhỏ câu ca tụng t́nh Chúa. Niềm vui diễn tả nhẹ nhàng qua nốt nhạc. Tôi thấy anh nọ thanh thản trong bộ y phục, đường ủi thẳng tắp, không một vết nhăn. Cái càvạt c̣n thơm mùi vải mới. Thái độ thong thả của anh cho biết anh đang vui trong ḷng, ḷng phơi phới tiến về trung tâm chia sẻ niềm vui với mọi người. Tôi gặp cụ già, rẽ ngôi giữa đầu, quần áo chỉnh tề đến trước giờ hội hơn tiếng đồng hồ. Điều đó biểu lộ niềm vui mong chờ cụ ôm ấp trong tim.
Những niềm vui đó bàng bạc trong cuộc sống, trong những sinh hoạt tôn giáo, những dịp đại lễ, nhắc chúng ta tôn giáo không phải luôn là gánh nặng với nhiều luật lệ cứng ngắc. Tôn giáo là cánh cửa mang lại niềm vui, thức tỉnh niềm vui trong tâm hồn. Niềm vui được đánh thức, được khuếch tán rộng ra mỗi khi tâm hồn ta gặp gỡ Đức Kitô.
Anh cùi gặp Đức Kitô xin Ngài được chữa lành, làm sống lại cuộc đời ủ dột. Xă hội loài người liệt anh vào hạng vất bỏ. Đức Kitô ban cho anh sự sống với, sống vui mạnh hơn những người đón nhận ơn mưa móc, hưởng lộc từ xă hội.
Xin ơn gặp gỡ Đức Kitô, cuộc đời được biến đổi thành chuỗi ngày vui thoả.
Đáng lẽ những bài tường thuật
phép lạ phải có tính lịch sữ cao. Nhưng v́
được viết lâu sau Phục Sinh và dưới ánh
sáng Phục Sinh lại nằm trong ư đồ của tác giả
nên bị cắt xén và sữa đổi ngay cả với
những chi tiết có tính lịch sữ như thời
điểm và địa điểm. Mc chỉ muốn hé mở
từ từ 'bí mật thiên sai' của Đức Giêsu nên
'cấm không cho nói'. Có lẽ ư chính của đoạn nầy
là cách cầu nguyện có hiệu quả: cầu nguyên theo ư
Chúa 'nếu Chúa muốn' chứ không xin theo ư ta v́ như vậy
là ép buộc Chúa, không để Chúa tự do. Chuá không thể
chấp nhận.
Vài điểm CHÚ GIẢI
- Một người cùi đến gặp Người: kẻ cùi phải tránh xa mọi nguời và phải la lên 'cùi,cùi' Anh nầy bạo gan mới dám 'đến gặp'. Ḷng tin mạnh mẻ khiến anh 'liều'.
- Anh ta qú xuống van xin 'nếu Ngài muốn Ngài có thể làm cho tôi được sạch': Khiêm tốn. Xin tận đáy ḷng. Dấu chỉ nữa của ḷng tin mạnh. Xin th́ phải theo ư người cho. Ngài có thể. Tin chắc. Muốn là quyền của Ngài. Ép buộc không được. Vô phép! Chúa chỉ làm theo ư Chúa
- Người động ḷng thương giơ tay chạm vào anh: Thấy ḷng tin Người động ḷng thương. Chỉ ḷng tin mạnh mới làm cho Người động ḷng và chạm vào. Ít được chú ư nên xin không được.
- Và bảo 'Ta muốn, anh hăy sạch đi': Chúa vô cùng yêu thương luôn muốn cứu chữa và ban ơn. Chúa muốn nhưng 'anh hăy sạch đi'. Sạch hay không là cuối cùng tuỳ ở anh. Anh không tự muốn bằng ḷng tin mạnh th́ cái 'Ta muốn' của Chúa không đến được với anh. Không có kết quả dù cái 'Ta muốn' có toàn năng. Là ư chính của tác giả khi thuật câu chuyện nầy để dạy cách cầu nguyện hiệu quả. Chỉ cầu nguyện cách nầy là có hiệu quả. Đức Giêsu đă nói 'cầu nguyện mà tin thật trong ḷng th́ được ngay'. Phải cho Chúa thấy ḷng tin. Đức tin làm cho người ta cầu nguyện khiêm tốn và xin theo ư Chúa. Chúa chỉ làm theo ư Chúa chứ không làm theo ư bất cứ ai. Không xin theo ư Chúa là không biết xin v́ Chúa không cho.
- Lập tức bệnh cùi biến khỏi anh và anh được sạch: Chúa cho th́ kết quả tức khắc dù là bệnh nan y v́ không có ǵ là không thể đối với Chúa.
- Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay và bảo 'coi chừng đừng nói với ai: Có lẽ chỉ có ḿnh anh ta v́ anh ta dám đến gần và Đức Giêsu không muốn cho người ta biết (sẽ phiền phức) nên mới đuổi. Hơn nữa chưa đến giờ trong chương tŕnh của Chúa Cha (sau thập giá và Phục Sinh). Bây giờ chưa hiểu đúng về Đấng Messia của Thiên Chúa v́ người ta đang mong đấng 'Messia do thái'.
- Nhưng hăy đi tŕnh diện với tư tế.....: Phải giữ trọn lề luật và Đức Giêsu c̣n muốn anh ta nhờ giữ luật mà được chính thức phục hồi tư cách làm người b́nh thường mà bệnh cùi đă tước mất.
- Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đă bắt đầu rao truyền tin ấy khắp nơi......: Không vâng lời Chúa. Khi xin th́ tin mà được rồi th́ hết tin. Phúc Âm khó hiểu v́ lẫn lộn chi tiết lịch sử trong ánh sáng Phục Sinh. Máccô được viết năm 67-70 khi mệnh lệnh rao giảng đang được thực hiện rộng răi.
Cầu nguyện - cầu xin - là việc làm chiếm phần lớn sinh hoạt giữ đạo của người tín hữu. Nhưng cầu xin nhiều mà chẳng thấy được bao nhiêu v́ không quan tâm và không làm đúng như Đức Giêsu dạy. Mở miệng ra là xin, lời nguyện nào cũng chỉ là xin mà không xin với những điều kiện Đức Giêsu dạy Xin mà tin thật trong ḷng th́ được. Người ta chỉ cầu nguyện bằng môi miệng mà không xin bằng cả tấm ḷng nên không thấy được.
Phải cho Chúa thấy ḷng tin 'thấy ḷng tin của họ' Đức Giêsu nói với người bại liệt 'cùi thiêng liêng' tội con đă được tha. Điều kiện thứ nhất phải là sạch tội. Người cùi đến gặp Đức Giêsu qú xuống van xin. Khiêm tốn trước mặt Chúa dù là cùi Chúa cũng động ḷng thương. Phải có ḷng tin mới làm được cử chỉ nầy. Điều kiện thứ hai là 'nếu Ngài muốn' xin theo ư Chúa. Chúa muốn th́ không ǵ là không thể. Phải để Chúa muốn theo ư Chúa. Đừng bắt Chúa muốn theo ư ta: là không có ḷng tin, phải để Chúa tự do muốn. Làm cho Chúa muốn là tin: Chúa yêu thương, Chúa tốt lành. Mọi điều Chúa muốn đều là tốt nhất cho ta. Đừng dạy Chúa muốn thế nầy thế kia.
Chúa biết cùi là không tốt. Chúa muốn cho người cùi hết bệnh. Phần người cùi phải cho Chúa thấy ḷng tin. Tin th́ sám hối, bỏ tội làm ngăn cách với Chúa như bệnh cùi cách ly người cùi với cộng đoàn dân thánh. Tin-sám hối là khiêm tốn phó thác vào t́nh yêu và sự tốt lành của Chúa.
Một chi tiết không được quan tâm là Đức Giêsu bảo 'đừng nói với ai' nhưng ra khỏi đó th́ anh ta 'rao truyền khắp nơi' làm hại Đức Giêsu 'không thể vào thành hay làng nào được mà phải dừng lại ở những nơi vắng vẻ'. Khi xin th́ biết xin theo ư Chúa mà được rồi th́ bỏ ư Chúa làm theo ư thích của ḿnh nên 'làm hại Đức Giêsu'. Phải luôn làm ư Chúa. Xin Chúa th́ theo ư Chúa là tỏ ḷng tin c̣n khi làm th́ cũng phải làm theo ư Chúa luôn mới nói lên ḷng tin thật sự. Lâu dài mới đủ chứng minh.
Lạy Ngài nếu Ngài muốn ......
(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn
Phượng, OP)
Cho đến thời Chúa Giêsu, luật lệ Do thái vẫn rất khắc khe đối với những người phong cùi. Những luật lệ này đă có từ thời ông Mô-sê được ghi lại trong chương 13 sách Lê-vi, quy định rất tỉ mỉ và rơ ràng những trường hợp người bị cùi và cách đối xử với những người ấy. Nghĩa là khi có những triệu chứng bệnh ngoài da, người bệnh phải đến gặp tư tế để khám nghiệm. Nếu là phong cùi th́ tư tế sẽ tuyên bố người đó không thanh sạch. Từ đó họ không được ở chung với người lành, không được ở trong làng, nhưng phải sống biệt lập trong hoang địa, không được tham gia bất cứ sinh hoạt nào. Họ không được tới gần người lành, cũng không được để người lành tới gần. Họ phải mặc áo rách, để tóc bù xù, và khi thấy người lành th́ phải hô to: "dơ, dơ" để người ta biết mà tránh xa. Nếu họ đụng tới người lành hay người lành đụng tới họ th́ người ấy trở thành dơ bẩn và bị khai trừ trong thời gian luật định.
Như vậy, khi đă mắc bệnh cùi là mặc nhiên bị đẩy vào một cái chết dần ṃn khủng khiếp. Chẳng những thế, kẻ mắc bệnh cùi c̣n bị xă hội nguyền rủa và xa lánh. Thân xác tiêu hao, tinh thần băng hoại, đời sống người bệnh không c̣n ǵ khác hơn là những tháng ngày rên siết đau thương trong khốn cùng tuyệt vọng.
Hiểu rơ số phận người cùi như vậy, chúng ta sẽ hiểu được trường hợp người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay. Một người cùi đến gần Chúa Giêsu và Chúa đă chữa cho người ấy được lành sạch. Như thế, người cùi này đă vượt qua các hàng rào mà luật đặt cho người cùi. Và chính Chúa Giêsu cũng đă vượt qua hàng rào luật định khi Ngài chạm tới người cùi. Nghĩa là với ḷng tin mạnh mẽ người cùi đón đường và đến gần Chúa. C̣n Chúa, thay v́ xa lánh như luật cấm, Ngài giơ tay chạm đến người bệnh. Việc Ngài chạm tới người cùi không làm cho Ngài ra dơ bẩn mà lại làm cho người cùi được lành sạch. Ngài không phạm luật nhưng Ngài làm cho luật nên hoàn hảo.
Thái độ của người cùi này đáng cho chúng ta suy nghĩ. Dù với tâm trạng e dè sợ sệt, anh vẫn tin tưởng kêu xin. Lời cầu xin ấy không phải là một hoài nghi, nhưng diễn tả một niềm tin hoàn toàn phó thác cho t́nh thương của Chúa Giêsu giữa cảnh cùng đường tuyệt vọng. Trước thái độ tin tưởng khiêm tốn của anh, Chúa Giêsu rất hài ḷng, Ngài dặt nhẹ tay trên vai anh và chữa anh lành bệnh bằng một lời đầy âu yếm: "Tôi muốn, anh hăy được sạch".
Đặt tay hay đụng chạm đến người cùi là một cử chỉ mà lề luật không cho phép và cấm ngặt, v́ nó sẽ làm cho con người ra dơ bẩn. Và với quyền năng của ḿnh, không cần đụng chạm vào người cùi, Chúa Giêsu vẫn có thể chữa lành anh ta. Thế nhưng, t́nh yêu dâng hiến sẽ nhận được t́nh yêu đáp trả. Tâm t́nh tin yêu của người cùi đă được Chúa Giêsu đáp trả bằng cử chỉ yêu thương của Ngài.
Câu truyện người cùi trên đây tuy ngắn gọn, nhưng diễn tả được đậm nét nguyên tắc sống của người Kitô hữu: không bi quan về cuộc sống. Không bao giờ mất tin tưởng, dầu cuộc đời xem ra như chẳng c̣n lối thoát. Và nhất là không bao giờ được quên t́nh yêu thương săn sóc của Cha trên trời. Bởi v́ chẳng có ǵ ngăn cản con người t́m đến với t́nh yêu Thiên Chúa. Dù cho cuộc sống có tăm tối u buồn, quanh ta chẳng c̣n người cảm thông, th́ vẫn c̣n Chúa Giêsu, Ngài luôn chờ đón và sẵn sàng đáp lời chúng ta. Và chúng ta hăy đến với Ngài để học nơi Ngài cách đáp trả.
Chúng ta đừng bao giờ tự làm cho ḿnh thành người mắc bệnh cùi và cũng đừng làm cho những người sống chung quanh ḿnh thành những người cùi. Nghĩa là có những người cư xử như ḿnh bị cùi, khi tự xây cho ḿnh pháo đài ích kỷ, lập dị... có những người khác lại đối xử với anh em như những người cùi, khi làm cho anh em cô đơn hoàn toàn, do lời nói hay thái độ chia rẽ, phân biệt đối xử... chẳng hạn có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh theo kiểu dân Do thái xa lánh người cùi. Hoặc chúng ta từ chối tiếp xúc, hợp tác với cá nhân này hay tập thể nọ chỉ v́ họ không cùng tín ngưỡng hay không đồng tư tưởng với chúng ta. Nếu sống như vậy là chúng ta tự làm cho ḿnh mắc bệnh cùi và làm cho anh em trở thành người cùi.
Chúng ta đừng bao giờ sống như thế, chúng ta đừng bao giờ cô lập ḿnh, đừng bao giờ gây chia rẽ; trái lại, hăy luôn sống cởi mở với mọi người, đối xử với mọi người trong tinh thần yêu thương và hợp tác.
Lạc quan vui sống là đặc tính cơ bản của người Kitô hữu. Chúng ta cần phải lạc quan v́ nhận thức được phẩm giá làm người và làm con Chúa của ḿnh. Chúng ta lạc quan vui sống v́ biết rằng ḿnh luôn được Thiên Chúa yêu thương săn sóc. Chúng ta lạc quan vui sống v́ biết rằng đàng sau mọi gian nan thử thách của cuộc đời, luôn có Thiên Chúa hiện diện để bảo vệ và nâng đỡ, để an ủi và khích lệ. Mỗi ngày có những đau khổ, nhưng cũng lại có niềm vui. Người Kitô chúng ta luôn biết vươn ḿnh trên đau khổ để đón nhận niềm vui được trao ban từ tấm ḷng, từ bàn tay, từ nụ cười của Thiên Chúa yêu thương. Một cuộc sống như thế phải là điều b́nh thường cho những ai biết đặt trọn niềm tin vào t́nh yêu Thiên Chúa. Một cuộc sống như thế không những chỉ là nguồn vui cho riêng ḿnh mà c̣n mang hạnh phúc đến cho gia đ́nh, cho xă hội nữa.
(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn
Phượng, OP)
Có một ḥn đảo nằm chơi vơi giữa biển Thái B́nh Dương mênh mông, trên đảo chỉ toàn là những người phong: cụt tay, đứt chân, mắt đui, mày lở, răng rụng…Một hôm, đức giám mục phụ trách quần đảo này gióng tiếng kêu gọi các linh mục ở Âu châu hăy t́nh nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một linh mục trẻ, đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh đă hăng hái đáp lời, đó là cha Đa-Miêng, sau này được tặng thêm biệt danh “Tông đồ người phong”.
Khi đặt chân đến ḥn đảo này, cha Đa-Miêng đă được tiếp đón và giới thiệu như sau: chiều hôm đó, trong ngôi nhà thờ rất đông người phong, đức giám mục đứng trên bàn thờ quay xuống giới thiệu với mọi người: “Các con thân mến, các con hằng mong ước có một linh mục đến ở cùng các con, yêu thương săn sóc các con, th́ đây cha Đa-Miêng, một linh mục người Bỉ sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết, các con có sung sướng không?”. Cả nhà thờ xôn xao, th́ thầm to nhỏ. Cha Đa-Miêng đứng cạnh đức giám mục chẳng hiểu họ nói ǵ. Rồi họ từ từ bước lên cung thánh, dáng điệu chất phác đơn sơ. Cha Đa-Miêng thấy họ đến gần ḿnh th́ sởn tóc gáy và nổi da gà, trông họ như những thây ma c̣n sống, như những quái thai mất hẳn dáng người. Họ làm ǵ đây? Họ tiến đến bên cha, người th́ sờ vào mặt, người th́ sờ vào tay, người th́ sờ vào áo cha…Cha hỏi đức giám mục: “Thưa đức cha, họ làm ǵ vậy?”. Đức cha trả lời: “Họ nói họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống ǵ với họ, trẻ trung, đẹp trai, không bệnh tật như họ, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này, họ không tin mắt ḿnh nên họ đến sờ mó vào người cha, xem cha có bị phong như họ không, và họ nói với nhau: “Không, cha đẹp quá, cha không bệnh tật ǵ cả, cha thương chúng ta quá”.
Sống với những người phong ở đây được một thời gian, dần dần cha Đa-Miêng ḥa đồng được với họ, nói tiếng của họ, cha không c̣n cảm thấy tởm gớm họ như những ngày đầu mới đến, nói đúng hơn, cha đă quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi trong họ, nên chẳng c̣n thấy ghê sợ gớm tởm nữa. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh phong, thân ḿnh lở loét, nhức nhối, mặt mày sần sùi, đen đủi, trông rất dễ sợ. Một số báo ở Bỉ đăng h́nh cha và kể lại sự hy sinh vĩ đại của cha. Thân mẫu của cha, mắt mờ không đọc được, nh́n vào bức h́nh bà cũng chẳng nhận ra nổi đứa con yêu, bà hỏi đứa cháu: “H́nh ai đây mà trông ghê sợ vậy?”, cô cháu trả lời: “Một người phong bên đảo Môlôkai của cha Đa-Miêng đấy”. Qua mắt được bà cố, nhưng họ lại nh́n nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ. Cha Đa-Miêng đă sống với người phong trên ḥn đảo này cho đến chết, t́nh yêu Chúa đă giúp cha hy sinh suốt đời v́ họ.
Phong, hủi hay cùi cũng là một thứ bệnh. Đă có lần nào anh chị em gặp một người phong cỡ nặng chưa? mời anh chị em vào trại phong Di Linh, Quy Ḥa, Bến Sắn...anh chị em sẽ thấy một người phong nặng, không c̣n h́nh tượng ǵ là con người nữa, tứ chi rụng hết, mặt mũi sần sùi, thân ḿnh lở loét. Có người đến đây không chịu nổi sự dơ bẩn đă té xỉu v́ hôi thối nặng mùi. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng sợ mắc phải chứng bệnh như thế, chúng ta sẽ tránh xa và ǵn giữ vệ sinh cẩn thận kẻo mắc thứ bệnh này.
Cũng vậy, bệnh phong đối với xă hội Do Thái thời Chúa Giêsu bị kể là dơ bẩn, một loại không thánh nữa, bị cô lập riêng ra một nơi, không được ở chung với dân làng, ngay cả cha mẹ thân nhân cũng không được chứa người đó trong nhà. Một người phong thời Chúa Giêsu là một nạn nhân thật sự bị ruồng bỏ, đi đâu người đó cũng phải lắc chuông hoặc kêu lên “dơ, dơ” để mọi người biết mà tránh xa.. Đau khổ nhất là bị cộng đồng Do Thái giáo gạt ra ngoài như một loại dứt phép thông công, cho nên, người mắc bệnh phong hết sức đau khổ về tinh thần cũng như thể xác, về của ăn họ chỉ sống nhờ của bố thí.
Nhưng trong câu chuyện Tin Mừng kể lại, chúng ta thấy người phong này đă đi vào xóm làng, chạy theo Chúa Giêsu và xin Ngài cứu chữa. Làm như thế là người này đă vi phạm luật lệ thời đó và có thể bị ném đá chết. Nhưng niềm tin vào Chúa đă khiến anh không sợ hăi để liều ḿnh như thế. Thực vậy, anh đến với Chúa với một niềm tin tuyệt đối, anh khiêm nhường quỳ xuống van xin: “Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Chúng ta hăy để ư câu anh nói “Nếu Ngài muốn”, anh nói như thế không phải là anh hồ nghi ǵ quyền năng của Chúa, mà ngược lại, anh hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa. Nói rơ hơn, anh biết rằng Chúa có thể và Chúa có quyền làm cho anh khỏi bệnh, nhưng điều đó c̣n tùy ư Chúa, tùy ḷng thương xót của Chúa. Đây cũng là gương mẫu nhắc nhở chúng ta mỗi khi cầu xin Chúa điều ǵ: xin vâng, xin tùy ư Chúa, xin tùy ḷng thương xót của Chúa.
Đàng khác, người Do Thái hết sức khinh bỉ những người phong, đến nỗi bất cứ ai giao tiếp cách nào với họ, như nói chuyện với họ thôi, cũng bị kể là dơ bẩn và không nên thánh được. Thế mà Chúa Giêsu đă nói chuyện và đụng chạm đến người phong này để chữa lành anh ta th́ đủ nói lên ḷng thương xót của Chúa như thế nào. Có những phép lạ Chúa chỉ phán một lời hay chỉ làm một cử chỉ nào đó, ở đây Chúa dùng cả hai: Chúa vừa nói “Tôi muốn, anh sạch đi” vừa cầm tay bệnh nhân để nói lên t́nh thương của Ngài đối với anh ta.
Đây cũng là điều nhắc nhở chúng ta: những người phong là những người đáng thương, chúng ta đừng bao giờ sợ hăi mà xa tránh, nhưng hăy thật ḷng thăm hỏi và cố gắng chia sẻ, giúp đỡ tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của chúng ta.
Có một bài hát sinh hoạt như sau:
"Tôi chỉ thực sự là người nếu tôi sống với anh em tôi,
Đâu phải ai xa lạ mà là người đang sống bên tôi,
Thế giới này không ai là một ḥn đảo,
Vườn hoa này không có loài hoa lạc loài."
Đúng vậy, một trong những điều đáng sợ đối với một con người là bị mọi người xa lánh và ghê tởm. Bởi ngay từ thuở ban đầu Thiên Chúa đă dựng nên con người là hai chứ không phải là một (St 1, 22 - 23). Cho nên, tự bản chất con người được dựng nên để sống với, sống chung, sống cho và sống v́ người khác. Hay nói cách ngắn gọn tự bản tính con người được kêu gọi để sống cộng đoàn.
Trong đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy anh thanh niên bị bệnh phong cùi đă rất khổ tâm. V́ đối với người Do thái ngày xưa bệnh phong cùi là một trong những căn bệnh được xem là ô uế. Do vậy, chính người bệnh không được phép chủ động để tiếp xúc với bất cứ người nào lành sạch. Cũng thế, những người lành sạch thấy người bệnh phải tránh xa nếu như muốn không bị lây nhiễm ô uế.
Trong hoàn cảnh bị cô lập như thế, anh thanh niên này hầu như tuyệt vọng. Giờ đây anh chỉ c̣n biết cậy trông vào Chúa Giêsu. Quả thật, sự cậy trông và tin tưởng của anh vào Người đă đem lại cho anh kết quả tốt. "Người chạnh ḷng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi! " (Mc 1, 41). Đây là cử chỉ hết sức đẹp mà anh đă được Chúa Giêsu ban tặng cho anh.
Sau khi được lành sạch Chúa Giêsu c̣n căn dặn anh:: "Coi chừng, đừng nói ǵ với ai cả, nhưng hăy đi tŕnh diện tư tế, và v́ anh đă được lành sạch, th́ hăy dâng những ǵ ông Mô-sê đă truyền, để làm chứng cho người ta biết." (Mc 1, 44). Đi tŕnh diện với tư tế để làm chứng rằng từ nay anh chính thức được trở lại với cộng đoàn theo đúng bản tính của ḿnh.
Mỗi khi sống trong t́nh trạng tội lỗi là mỗi khi chúng ta đă tự tách ḿnh ra khỏi cộng đoàn dân thánh của Chúa. Những khi ấy chúng ta hăy mau mắn đến với Toà giải tội để được hoà nhập lại với cộng đoàn thiêng liêng quư giá ấy.
C̣n đối với đời sống chung nhiều khi v́ ích kỷ, tự ái, ganh tỵ và ghen ghét chúng ta tự tách ḿnh ra khỏi cộng đoàn anh chị em của ḿnh hay làm cho mọi người phải ghê sợ khi phải tiếp xúc với ḿnh. Những lúc ấy chúng ta hăy can đảm dẹp bỏ những lợi ích riêng tư để hoà nhập với anh chị em của ḿnh.
Đồng thời, chúng ta cũng luôn có thái độ thông cảm đón nhận anh chị em ḿnh. Dù họ có tệ rạc cách mấy th́ họ vẫn được chính Máu cũa Chúa Giêsu cứu chuộc nên chúng ta không nên có bất cứ thái độ nào để cô lập anh chị em của ḿnh.
Ngày nay, bệnh AIDS là mối đe doạ cho
loài người. Tính đến nay có đến hàng triệu
người nhiễm HIV. Rất nhiều người
đang lâm vào t́nh cảnh bi đát, đau thương
như đang đứng bên bờ vực thẳm.
Nhưng bệnh này c̣n đỡ hơn bệnh cùi ngày
xưa. Trong sách Lêvi qui định: ai bị cùi sẽ phải
ở riêng, phải mặc áo rách và đi tới đâu cũng
phải tự ḿnh kêu lên: " ô uế" để mọi
người tránh xa ra. Đối với người mắc
bệnh nan y đó phải khổ sở đến mức
nào v́ họ bị loại khỏi xă hội, không tiếp
xúc được với ai, không được ai chăm
sóc và nâng đỡ!
Khi Chúa Giêsu đến, Ngài đă cứu chữa anh cùi cả phần xác lẫn phần hồn. Chính Ngài đă giúp anh thóat khỏi mặc cảm bị mọi người bỏ rơi và xa lánh, chính Ngài giúp anh ḥa nhập với xă hội. Ngài dạy anh đi tŕnh diện tư tế theo luật định để anh được hoà nhập với cộng đoàn, được quyền tiếp xúc với mọi người và được hưởng quyền lợi chính đáng như mọi người khác. Điều này cho thấy sự quan tâm của Chúa Giêsu đối với những người đau khổ, thấp hèn. Ngài giải thóat anh khỏi mọi nỗi khổ đau và cho anh hiểu t́nh thương vô biên của thiên Chúa đối với ḿnh. Lúc anh tiếp xúc được với Ngài th́ bệnh cùi của anh biến đi.
Chúa Giêsu là người có hành động táo bạo, dám đụng vào anh cùi, không sợ sự ô uế của anh lây qua. Ngược lại, chính sự trong sạch của Chúa Giêsu và t́nh yêu của Ngài đă làm cho bệnh cùi phải biến đi. Tuy nhiên, có người thắc mắc tại sao Chúa Giêsu lại không cho anh loan tin vui đó cho mọi người. Có lẽ theo quan niệm của người Do thái thời đó, họ quá chú trọng đến một Messia đến giải phóng dân tộc hơn là cứu chuộc ṭan diện cả hồn và xác; họ mong một Messia uy quyền hay ra h́nh phạt hơn là đối xử nhân từ với tội nhân nên Chúa Giêsu chưa muốn tỏ ḿnh ra ngay lúc đó chăng? Có lẽ Ngài muốn rằng: Qua những lời rao giảng của Ngài, dân chúng sẽ hiểu đúng và chính xác về Ngài hơn. Ngài không muốn họ t́m Người chỉ v́ phép lạ, nhưng t́m đến Ngài để hiểu biết đường lối Chúa và đón nhận ơn cứu rỗi.
Có một điều lạ là làm sao anh cùi biết về Chúa Giêsu, và quyết chí t́m đến Ngài để xin được cứu chữa. Bởi v́ người cùi đâu được chen vào đám đông để nghe Chúa Giêsu giảng, cũng đâu được nói chuyện với ai v́ mọi người đều sợ bệnh cùi của anh! Có lẽ anh không cần nghe nhiều về Chúa như mọi người nhưng ḷng của anh luôn biết hướng về ngài, chỉ cần nghe một chút đă nhận ra được quyền năng của Ngài. Điều đáng lưu ư là anh cùi có ḷng tin, đến van xin Chúa th́ Ngài mới chữa lành cho. Nếu anh không biết kêu cầu Chúa th́ anh sẽ khó mà khỏi bệnh.
Ngày hôm nay, ḷai người chúng ta cũng gặp rất nhiều căn bệnh trầm kha về tinh thần hoặc về thể xác nhưng có được bao nhiêu phần trăm biết chạy đến Chúa Giêsu để được Ngài cứu chữa! Chắc hẳn, Ngài đang thiết tha mời gọi mỗi người chúng ta: hăy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc mang gánh nặng nề,Ta sẽ bổ sức cho.
Khi được Chúa chữa lành hay bổ sức cho, chúng ta hăy biết cám ơn Chúa, biết chúc tụng Chúa, biết đáp đền ơn Ngài bằng việc giúp những người khác biết Chúa Giêsu bằng cách rao truyền và làm chứng về ḷng nhân từ và ơn cứu độ Chúa ban cho ḷai người. Chúng ta hăy làm như lời thánh Phaolô dạy trong bài đọc 2: hăy làm tất cả để tôn vinh Chúa, đừng làm gương xấu nhưng hăy bắt chước Đức Kitô, làm mọi việc v́ Chúa, v́ ích lợi của tha nhân để họ được ơn cứu độ nhờ đời sống gương mẫu và lời rao giảng của ḿnh. Chúng ta hăy bắt chước thánh Phaolô loan báo Tin Mừng Chúa cứu độ cho những người mà ḿnh gặp gỡ, như anh cùi vừa được ơn lành bệnh th́ không kềm ḷng được, anh phải rao truyền cho mọi người biết ngay.
Chúng ta biết rơ rằng: Chúa Giêsu đă chết nhưng đă phục sinh để cứu chuộc mọi người chúng ta, nhưng chúng ta c̣n thụ động trong việc giữ đạo, không thiết tha sống theo lời dạy bảo của Chúa, chưa lo nói về Chúa cho người khác nghe! Nhiều khi chúng ta có dịp nói về chuá nhưng chúng ta vẫn trù trừ, không tỏ ra hết ḷng tin cậy Chúa và không truyền đạt cho những người xung quanh biết về Chúa! Đó là sai sót lớn của chúng ta hôm nay. Có lẽ bài Tin Mừng hôm nay là thuốc chữa bệnh cho chúng ta, nhắc chúng ta nhớ lại bổn phận khi chịu Bí tích Thêm sức, đó là: can đảm thi hành Lời Chúa, hăng hái họat động tông đồ, góp phần xây dựng xă hội để thể hiện đức tin của ḿnh, làm chứng cho Chúa giữa xă hội ḷai người.
Nếu mọi người hăng hái rao truyền về Chúa như anh cùi hôm nay th́ thế giới không mấy chốc sẽ tràn đầy Tin Mừng của Chúa. Từ đó, trên môi miệng của mọi người sẽ là những lời yêu thương, hy vọng và vui mừng v́ Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta.
(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Trần
Ngà)
Thời Chúa Giêsu, người mắc bệnh phong lâm vào hoàn cảnh vô cùng bi đát và thảm hại. Cuộc sống của họ tồi tệ ngàn lần hơn cái chết. Thà chết phứt đi c̣n hơn là phải chịu cái chết dần ṃn trong đau đớn thể xác và khốn khổ về tinh thần. Nỗi đau thương nhất mà người phong hủi phải gánh chịu là bị cách ly khỏi cha mẹ, bạn trăm năm, con cái, những người thân yêu và hết thảy mọi người để sống trong sự ghê tởm, ghẻ lạnh của người đời và kết thúc cuộc đời bằng cái chết cô đơn thảm hại.
Bài trích sách Lêvi được trích đọc trong phụng vụ hôm nay diễn tả phần nào t́nh trạng thương tâm đó: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoă tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế! Ô uế!”. Bao lâu c̣n mắc bệnh, th́ nó ô uế; nó ô uế. Nó phải ở riêng ra, cách ly khỏi mọi người. Chỗ ở của nó là một nơi riêng bên ngoài trại.” (Lêvi 13, 45-46)
Tội lỗi cắt ĺa chúng ta khỏi thân ḿnh Chúa Giêsu.
Tội lỗi cũng y như một thứ bệnh phong hủi trong tâm hồn gây tác hại cho người lỗi phạm không thua kém.
Giáo lư công giáo dạy rằng bí tích thánh tẩy tháp nhập người tín hữu vào Thân Ḿnh Chúa Giêsu như cành nho được tháp vào thân nho và cũng như thân nho chuyển thông nhựa sống nuôi cành thế nào th́ Chúa Giêsu cũng chuyển thông sự sống thần linh của Người cho các tín hữu như thế.
Bí tích thánh tẩy làm cho “người tín hữu trở thành chi thể trong Thân Thể Chúa Giêsu” (giáo lư công giáo số 1267), nhờ đó, sự sống vĩnh cửu của Chúa Giêsu được thông ban cho họ y như sự sống của toàn thân châu lưu trong từng chi thể.
Thế nhưng, khi phạm tội trọng, người tín hữu tự cắt ĺa ḿnh ra khỏi Chúa Giêsu như cành nho bị chặt phăng khỏi thân nho, như bàn tay bị cắt ĺa cơ thể.
Hậu quả của việc cắt ĺa nầy là họ trở nên như một cành nho khô héo, thành một bàn tay đứt ĺa, và v́ thế, sự sống thiêng liêng của Thiên Chúa không c̣n được thông ban cho họ nữa. Thân phận của họ lúc nầy c̣n tệ hơn cả thân phận người phong hủi bị gạt ra khỏi gia đ́nh, thôn xóm và cách ly với mọi người.
Chúa Giêsu cứu ta khỏi tội và đưa ta hoà nhập lại với Hội Thánh.
Khi “người bị phong hủi đến gặp Chúa Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Chúa Giêsu chạnh ḷng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.” (Mc 1, 40-42)
Làm sao tả hết nỗi mừng vui hoan hỉ của người phong được Chúa chữa lành. Anh ta reo lên vui sướng và mặc dù Chúa Giêsu nghiêm cấm anh tiết lộ danh tánh Người đă cứu chữa anh, nhưng niềm hạnh phúc trào dâng không thể nào ḱm nổi đă khiến anh phải cao rao cho mọi người biết hồng ân anh đă lănh nhận. (Mc 1, 42)
Từ đây, anh được thoát khỏi chứng bệnh quái ác và không c̣n bị cách ly với xă hội loài người, được giă từ nơi cô tịch để về sum họp với gia đ́nh, làng xóm, được đoàn tụ với bao người thân yêu.
Hôm nay, để cứu chúng ta khỏi t́nh trạng “cành ĺa cây”, “cánh tay bị cắt ĺa cơ thể” do tội lỗi gây ra, Chúa Giêsu lập nên bí tích giải tội để nối kết chúng ta lại với Thân Ḿnh Người, để cho sự sống thần linh của Người tiếp tục truyền qua cho chúng ta như sự sống của thân nho chuyển thông cho cành, như sự sống từ thân ḿnh chuyển qua cho bàn tay.
Ngày qua ngày, Chúa Giêsu vẫn trông chờ chúng ta ăn năn trở về như người cha chờ đợi đứa con đi hoang, như mẹ hiền mong ước đứa con lưu lạc trở về. Người vẫn thao thức t́m kiếm chúng ta như người chủ chiên đi t́m con chiên lạc rất yêu dấu.
Ước ǵ chúng ta biết thành khẩn t́m đến với Chúa Giêsu như người mắc bệnh phong trong Tin Mừng hôm nay, khiêm tốn quỳ xuống trước mặt Người và tha thiết van xin: “Lạy Chúa, xin thanh tẩy linh hồn con nên trong sạnh. Xin cho con được giao hoà với Chúa để sự sống của Chúa lại được thông truyền cho chúng con.”
(Hiếu Nguyễn sưu tầm -thanhlinh.net)
1. Một loại phong cùi
Trong một giáo xứ, cha sở đă lập một ban Hội đồng mục vụ. Ngài chọn những người đạo đức gương mẫu vào ban này. Ngài luôn khuyến khích nâng cao tinh thần tông đồ và ḷng vị tha cho họ.
Dầu vậy, một người trong ban đă sa ngă phạm tội làm gương xấu, phần đông bổn đạo đều biết và xầm x́ bàn tán. Người đó lại là người trước nay rất đạo đức, hăng hái hoạt động tông đồ.
Thấy vậy cha sở rất đau ḷng. Ngài cầu nguyện cách riêng cho ông và t́m cách khuyên mời ông ăn năn hối cải. Ngài hỏi ư kiến một vị trong Hội đồng:
- Ông nghĩ sao về gương của người đó?
- Thưa cha, một người trong Hội đồng mà làm gương xấu như thế th́ không thể chấp nhận được.
Cha hỏi người khác, ông này nói:
- Con đề nghị sa thải ông ấy, nếu không cả Hội đồng sẽ mang tiếng và khó làm việc.
Thấy một người ngồi im lặng có vẻ nghĩ ngợi, cha sở hỏi:
- C̣n ông, ông nghĩ sao?
- Thưa cha, theo con nghĩ: ông ta chưa đến nỗi tệ. Nếu con lâm vào hoàn cảnh ông ấy chắc con c̣n tồi tệ hơn.
----------
Tin mừng hôm nay thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành người mắc bệnh phong cùi. Phải chăng gương xấu của người trong Hội đồng mục vụ trên đây cũng là một loại phong cùi, phong cùi v́ gương xấu của ông ta. Loại bệnh này cũng lây nhiễm nguy hiểm cho người khác: nhất là ông ta là người có chức quyền trong họ đạo, th́ ô nhiễm của ông ta càng trầm trọng hơn.
Thánh Phaolô đă khuyên chúng ta trong thư gởi giáo đoàn Côrintô hôm nay: “Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai”. Vậy Chúa Giêsu đă phán: Ai làm gương xấu, hăy treo đá vào cổ nó và xô xuống biển cho nó chết.
Tại sao Chúa kết án nặng cho kẻ làm gương xấu như thế? V́ nó rất nguy hiểm, nó làm cớ cho kẻ khác bắt chước phạm tội như nó. Nó là một thứ phong cùi hay lây nhiễm ô uế xấu xa.
Nhưng Chúa vẫn thương cứu chữa những kẻ ấy. Lẽ nào chúng ta không thương giúp?... (Theo “Maria, Mẹ tuyệt mỹ”).
2. Anh tung tin khắp nơi
Dưới thời tổng thống Sutacô Gaiep bắt đạo, Giáo hội Công giáo tại Mêhicô phải chịu bách hại dữ dằn. Hai mươi ngàn nhà thờ bị đóng cửa. Đặc sứ Ṭa Thánh và các linh mục tu sĩ nước ngoài bị trục xuất. Hàng ngàn Linh mục và giáo dân bị xử bắn v́ không chịu chối Chúa bỏ đạo. Tại thành phố Pueblo có cụ Jose Saphan là Kitô hữu can đảm. Cụ có tiệm tạp hóa nhỏ, và bất chấp lệnh cấm đạo, cụ treo tấm bảng trước cửa tiệm với hàng chữ lớn: “Vạn tuế Chúa Kitô” Đây là khẩu hiệu của các tín hữu Kitô ở Mêhicô… Ngày 20 tháng 07 năm 1926, viên tướng tư lệnh quân đội tại thành phố Pueblo đi ngang cửa tiệm cụ, thấy tấm bảng với hàng chữ đó. Ông tức giận truyền cho cụ phải tháo gỡ. Nhưng cụ cương quyết trả lời “Không” với viên tướng. Thế là cụ bị bắt giam ngục. Và hôm sau bị dẫn đem đi bắn. Nhưng chưa tới nơi hành quyết, cụ đă bị một tên lính bắn chết nằm bên vệ đường
Tin mừng hôm nay thuật lại, sau khi Chúa Giêsu chữa người phong hủi được sạch, “Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay và bảo: “Coi chừng, đừng nói ǵ với ai cả… Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đă bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi” (Mc.1,43-45).
Mặc dầu bị Chúa Giêsu cấm đoán, người phong hủi được Chúa chữa lành cũng can đảm “rao truyền và tung tin ấy khắp nơi” cho con người nhận biết quyền năng vô cùng của Chúa, để mọi người nh́n nhận Người, tin kính Người là Đấng Cứu Thế Chúa Cha sai đến để cứu rỗi con người.
Cụ Jose Saphan trong câu chuyện trên đây tuy bị cấm cách tù ngục cũng vẫn mạnh mẽ tuyên xưng vương quyền của Chúa Kitô. Cụ biết nhà cầm quyền sẽ dứt bỏ biểu ngữ tuyên xưng niềm tin của cụ và sẽ giết cụ, nhưng cụ vẫn can đảm nói lên xác tín chỉ có Chúa Kitô là Thiên Chúa duy nhất cứu rỗi con người, đem lại hạnh phúc đích thực và vững bền cho loài người.
Phải chăng đó là những tấm gương tuyệt vời cho các Kitô hữu chúng ta hôm nay. Dù khó khăn cam khổ thế nào cũng mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin vào Đấng cứu độ duy nhất là Chúa Giêsu Kitô.
(Theo “Phép lạ trên biển cả”).
---------
3. Chiếc vĩ cầm bị bể
Năm 1981, Peter Cropper nhạc sĩ vĩ cầm danh tiếng nước Anh được mời đến Phần Lan tŕnh diễn trong buổi ḥa nhạc đặc biệt. Anh đă được nhạc viện hoàng gia tặng cho chiếc vĩ cầm vô giá đă chế tạo cách đó 285 năm. Anh luôn sử dụng nó trong các buổi ḥa nhạc. Hôm nay anh mang nó đến Phần Lan để tŕnh diễn. Nhưng rủi thay khi bước lên sân khấu, anh trợt chân té xuống, làm chiếc vĩ cầm vô giá của anh vỡ tan từng mảnh!...
Thế là anh trở về Luân Đôn, ḷng trí khủng hoảng tột độ. Dù vậy anh không chán năn ngă ḷng. Anh mang nó đến một người thợ chuyên sửa đàn đầy kinh nghiệm tên là Charles Beare và nhờ ông sửa chữa. Cuối cùng ông đă lắp ráp lại được toàn bộ các mảnh vỡ, làm thành cây đàn nguyên vẹn như trước. Ông giao chiếc đàn lại cho Peter. Người nhạc sĩ vĩ cầm lấy cây đàn hồi hộp trổi nhạc. Âm thanh của chiếc vĩ cầm vẫn tuyệt hảo như trước và xem ra c̣n xuất sắc hơn trước khi nó bị bể vỡ nữa. Từ đó anh mang nó đi tŕnh diễn khắp nơi và nó đem lại cho anh biết bao lời hoan hô nồng nhiệt.
----------
Câu chuyện chiếc vĩ cầm trên đây là một h́nh ảnh tuyệt hảo cho những ǵ đă xảy ra nơi người phong cùi trong Tin mừng hôm nay. Ai cũng gớm ghiếc anh ta v́ sợ lây nhiễm, chính anh ta cũng ghê tởm chính ḿnh như Thánh vịnh 31 mô tả:
“Những kẻ tôi quen biết đều sợ hăi tôi
trông thấy tôi ngoài đường là họ xa lánh!
…Tôi chẳng khác nào đồ phế thải”.
Thế mà đối với người phong cùi ghê tởm đó, Chúa Giêsu đă đưa tay tŕu mến chạm vào, chữa cho anh khỏi bệnh. Điều đó đem đến cho chúng ta một sứ điệp quan trọng. Nếu một điều ǵ chẳng may xảy đến cho chúng ta, như một tai nạn, một bạn bè phản bội, một người thân mất, một nghèo đói bệnh tật, vv… làm cho chúng ta đau đớn khổ sở trầm trọng giống như người mắc bệnh cùi, như nhạc sĩ Peter khi đánh vỡ chiếc vĩ cầm… Chúng ta chỉ cần chạy đến Chúa Giêsu và kêu xin Người. Người sẽ chữa lành cuộc đời tan nát của chúng ta như ông thợ tài giỏi đă sửa chữa chiếc vĩ cầm tan vỡ. Và Người c̣n làm được hơn thế nữa. Người sẽ biến cuộc đời tan nát chúng ta tốt hơn, đẹp hơn trước nữa. (Theo “Sunday Homilies”).
4. Bệnh phong cùi
Một vụ nổ làm chú bé 7 tuổi bị phỏng nặng hai chân, đến nỗi bác sĩ không chữa được, bảo phải cưa đôi chân. Và như thế nó sẽ phải tàn phế suốt đời!...
Thế mà hai năm sau với niềm tin mănh liệt, cậu đă bỏ cặp mạng, tự đi được và c̣n chạy được nữa.
Cậu thi đậu đại học, và chọn môn ngoại khóa là chạy đua. Và cậu làm cho mọi người kinh ngạc, cậu phá kỷ lục môn này…
--------
Cậu bé tưởng chừng phải tàn phế suốt đời đă trở thành vận động viên xuất sắc nhờ niềm tin vào khả năng của ḿnh. Với niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa, người phong cùi đă được lành sạch.
Tin mừng hôm nay thuật lại: “Người bị phong hủi đến với Chúa Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Người chạnh ḷng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch” (Mc.1,40-42).
Đối với người Do thái xưa, kẻ mặc bệnh cùi là bị Chúa phạt v́ tội lỗi của họ, và xă hội xa lánh v́ sợ lây nhiễm, lây nhiễm phong cùi và nhất là lây nhiễm ô uế xấu xa. Trong t́nh trạng bi đát đau khổ đó, người phong cùi đă biết tin tưởng Chúa, chạy đến chúa, quỳ xuống van xin: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn là Ngài chữa tôi được khỏi bệnh. Đức Giêsu động ḷng thương, đưa ty chạm đến anh và bảo: Tôi muốn. Tôi cho anh khỏi bệnh. Ngay tức khắc, anh được lành sạch. (Mc.1,40-42).
M. Carré nói: “Sống trong một thế giới đầy đau khổ trước mắt, chúng ta phải là những nhà chuyên môn của tin tưởng trông cậy”. Và G. Bossis mời gọi chúng ta: “Hăy tin và tin nhiều hơn nữa cho đến khi xảy ra phép lạ” (Theo “Như Thầy đă yêu”).
Tin Mừng Thánh Marcô tŕnh bày cuộc sống
Chúa Giêsu một cách đơn giản và gần gũi với
con người. Thánh Marcô vẽ ra một bức tranh rất
thực về con người Chúa Giêsu. Tuy nhiên, không v́ thế
mà Marcô bỏ quên phương diện thần tính của
Ngài. Chúa Giêsu không chỉ là một người ở giữa
loài người. Ngài c̣n là một Thiên Chúa đang sống giữa
con người. Ngài luôn khiến tâm trí con người cảm
động trước những lời nói và việc làm của
Ngài. Qua phép lạ Chúa Giêsu chữa lành anh bệnh phong hôm
nay, tôi muốn chia sẻ về niềm tin vào ḷng
thương xót củaThiên Chúa.
Sứ mạng cứu chữa
Hành động của Chúa Giêsu hôm nay khiến con người phải ngỡ ngàng trước t́nh thương của Thiên Chúa. Phong hủi là thứ bệnh ghê tởm nhất thời Chúa Giêsu. Không có bệnh nào lại huỷ hoại con người lâu dài và ghê gớm như bệnh này. Nó khiến cơ thể bị lở loét, tanh hôi và rụng mất dần từng chi thể. Tệ hại hơn, những người bệnh phong bị coi như là "người đă chết". Họ hoàn toàn bị khai trừ khỏi xă hội loài người. Mọi người khi thấy họ th́ tránh xa v́ sợ bị ô uế. Chúa Giêsu không hề xa tránh anh. Hành động của Ngài hoàn toàn khác hẳn với những người khác. Ngài đến giơ tay và đụng chạm vào anh. T́nh thương của Ngài làm cho chứng phong cùi được chữa khỏi. Chứng phong hủi không lây được sang Ngài, trái lại sự thanh sạch của Ngài đă lan tràn sang anh, khiến anh được sạch.
Sứ mạng yêu thương
Chúa Giêsu mỗi khi xuất hiện Ngài luôn giữ vai tṛ là người gieo rắc t́nh thương: bệnh tật được chữa lành, tang tóc được hân hoan, tội lỗi được tha thứ, ngay cả cái chết đối với Ngài chỉ là giấc ngủ b́nh an. Ở Naim, ngài đă biến đổi giọt nước mắt của người mẹ khóc thương con ḿnh thành những giọt lệ vui mừng khi Ngài cho con bà sống lại. Cho đến nỗi, khi bị treo trên thập giá, t́nh thương Ngài vẫn tiếp tục cho anh trộm lành trong tuyệt vọng được tham dự vào Nước Ngài. Hành động Chúa Giêsu khiến cho con người nhận thấy quyền năng của Ngài là t́nh yêu chứ không phải là sức mạnh của binh lực. Ngài đến mang cho con người sự sống chứ không phải là kẻ tiêu diệt sự sống.
Đáp đền trong tin tưởng
Về phía anh phong hủi, anh đă không lầm khi dám liều ḿnh tiến đến van nài trước vị Thầy đầy t́nh thương: "Nếu Ngài muốn, ngài có thể làm cho tôi được sạch". Chính ḷng tin đă thúc giục anh vượt qua những lời chê cười, khinh bỉ của bao cặp mắt người đời. Thông thường nếu anh đến với một thầy Rabbi hay mô#t thầy giáo luật chắc hẳn anh sẽ bị ném đá đuổi đi. nhưng với Chúa Giêsu, anh đặt hết niềm tin tưởng vào Ngài. Anh tin rằng, Ngài có thể làm được điều mà người khác không thể. "Nếu Ngài muốn", một lời mở đầu cho lời cầu xin đầy tin tưởng vào phó thác hoàn toàn vào Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không hề bận tâm đến bề ngoài xấu xí, hôi tanh của anh, nhưng Ngài nh́n thấy tận trong tim anh một nỗi khát khao được chữa lành.
Hôm nay anh bệnh phong này đă làm được điều mà nhiều người chưa hề dám nghĩ. Đức tin của anh đă phát sinh hiệu quả khi gặp được t́nh thương của Chúa Giêsu. Đức tin là dám nghĩ rằng t́nh thương Thiên Chúa đang hiện diện và hành động nơi ta mặc dầu mọi bằng chứng đều cho thấy ngược lại. Tin là dám nghĩ rằng Thiên Chúa đang ở bên ta mặc dù thực tế ta thấy Ngài c̣n quá xa cách. Tin là dám nghĩ Ngài vẫn yêu thương ta dù ta chẳng có ǵ đáng yêu. Tin là dám nghĩ rằng Ngài vẫn hành động liên lĩ trong ta để biến đổi ta cho dù có khi ta nghĩ Ngài đă chết rồi. Anh phong hủi hôm nay đă dám nghĩ, dám làm điều mà nhiều người không dám làm, dám nghĩ.
Một điều đáng cho chúng ta suy nghĩ đó là: Ḷng thương xót Chúa th́ không có giới hạn, thế nhưng Chúa Giêsu không chữa lành hết mọi bệnh nhân phong cùi của xứ Palestine. Ngài cũng không tiêu diệt tận gốc bất kỳ một thứ bệnh tật nào. Chúa Giêsu chỉ chữa một vài người mà Ngài gặp trên đường và xin Ngài cứu chữa. Điều đó nói lên rằng ḷng thương xót không cho phép Ngài chữa một lần cho tất cả mọi bệnh tật rồi "cuốn goi" ra đi. Nhưng Ngài muốn cứu chữa từng người để cho con người thấy rằng Ngài vẫn đang c̣n hiện diện nơi đây để sẵn sàng cứu chữa những ai cần đến Ngài.
Hiện nay bệnh tật vẫn c̣n đó đây trên khắp thế giới. Những chứng bệnh nan y vẫn lan tràn và sự dữ vẫn c̣n nhan nhản. Những thứ bệnh tiểu đường, béo ph́, HIV, siêu vi B... đủ làm cho nhiều người phải lo lắng. Tuy nhiên những chứng bệnh tâm hồn lại khiến con người càng lo lắng hơn. Những thiếu sót, lỡ lầm làm cho đời sống của ta bị tanh hôi, lở loét. Nó khiến t́nh yêu Thiên Chúa bị che mờ đến mức ta không nh́n thấy được nữa. Tội lỗi dễ khiến ta mất tin tưởng vào Thiên Chúa và luôn t́m cách lánh xa Ngài. Tuy nhiên, ta nên nhớ rằng: Bất luận ta nghĩ ḿnh xấu xa như thế nào; bất luận tội lỗi làm cho ta ô uế ra sao. Chúa Giêsu luôn thấu suốt tận thâm sâu của mỗi người. Ngài sẵn sàng cứu chữa cho những tâm hồn biết tin tưởng cầu xin.
Những lỗi lầm trong quá khứ, những thử thách trong hiện tại dễ làm cho ta trở nên lạnh lùng khi đối diện với Thiên Chúa. Chúng ta hăy vững tin như người phong cùi trong Tin mừng hôm nay. Anh đă mạnh dạn tiến đến Chúa Giêsu. Chỉ một lần can đảm của anh khiến cho anh được sạch. Ước ǵ mỗi ngày ta càng thêm xác tín vào t́nh yêu của Thiên Chúa. Chúng ta mạnh dạn đến với Ngài để t́nh yêu của Ngài luôn được hoạt động cách mạnh mẽ và hiệu quả trong cuộc đời của mỗi chúng ta.
Một người tân ṭng mới trở lại
cùng Chúa, ngày kia có anh bạn láng giềng tới chơi và hỏi:
Anh biết được những ǵ về Đức
Kitô? Người tân ṭng trả lời: Có, tôi biết nhiều
lắm. Người bạn hỏi: Vậy Ngài sinh ra bao giờ,
ở đâu và chết lúc bao nhiêu tuổi. Trước những
câu hỏi này, người tân ṭng tỏ ra bối rối v́
kiến thức của anh về Đức Kitô c̣n non yếu.
Cuối cùng người tân ṭng bèn thú nhận: Phải, về
Đức Kitô th́ tôi biết ít lắm, nhưng có điều
này chắc chắn: Trước đây tôi nằm đường
nằm chợ, tôi say sưa be bét, nợ nần ngập
đầu ngập cổ. Trước đây, vợ tôi ít
khi mỉm cười với tôi. Thấy bóng tôi là sợ
hăi. Nhưng hôm nay, tôi là một người đàn ông tiết
độ, hết nợ và c̣n dư tiền để tậu
một căn nhà mới. Hôm nay, vợ tôi thường
tươi cười với tôi. Đức Kitô đă làm
cho tôi tất cả những điều ấy. Đó là niềm
tin tưởng và xác tín của tôi.
T́nh cảnh của người tân ṭng này cũng phần nào giống với người phong cùi của đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Anh không biết nhiều về Đức Kitô, nhưng anh tin chắc Ngài đă chữa lành cho anh và anh ra đi loan truyền cho mọi người biết điều đó…
Với chúng ta cũng vậy, chúng ta phải nói cho mọi người biết những ǵ Đức Kitô đă làm cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hăy lưu ư tới hành động của Chúa Giêsu. Ngài không sợ bị nhơ bẩn, bị ô uế, trái lại Ngài đă giơ tay ra, đụng tới người phong cùi và bỗng nhiên cơn bệnh của anh biến mất.
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn c̣n giơ tay ra đụng tới chúng ta và chữa lành chứng bệnh phong cùi tâm hồn chúng ta là tội lỗi. Thực vậy, Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Giải tội, để chữa lành những ung nhọt tội lỗi. Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Thêm sức, để trao ban Thánh Linh và gia tăng sức sống. Và nhất là Ngài không phải chỉ đụng đến chúng ta mà c̣n ngự vào tâm hồn chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Rồi khi chúng ta đau yếu, Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Xức dầu để xoa đi những đớn đau phần hồn cũng như phần xác. Ngài giơ tay ra cho những cô dâu và chú rể để giúp họ thánh hóa cuộc sống gia đ́nh…
Chính v́ thế, chúng ta có thể mượn lời kinh chúc tụng của Mẹ Maria để cảm tạ hồng ân Thiên Chúa. Ngài là Đấng toàn năng, đă làm cho tôi muôn việc trọng đại. Là những người cha người mẹ, chúng ta phải nói cho con cái biết những ǵ Chúa đă làm cho chúng ta và cho gia đ́nh chúng ta nữa.
Tất cả chúng ta, những Kitô hữu, cũng phải nói cho những người tin cũng như không tin, bằng lời nói và bằng đời sống, những ǵ Chúa Giêsu đă làm cho chúng ta.
Có thể chúng ta không biết nhiều về Đức Kitô, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Ngài đă làm chuyển biến, đă làm thay đổi để chúng ta được trở nên tốt lành và thánh thiện hơn.
“Ngài chạnh ḷng thương, giơ tay sờ
vào anh ta”
Như bị một ma lực cuốn hút, người phong cùi cứ rẽ đám đông xấn tới, tiến lại gần Đức Giêsu, mặc cho người ta nạt nộ quát mắng, ngăn cản anh. Và cũng bất chấp dư luận, Đức Giêsu đă giơ tay ra đón và sờ vào anh ta. Theo phong tục Do Thái thời Chúa (và bây giờ ở nhiều nơi vẫn c̣n như vậy), bệnh nhân phong bị cấm, không được lui tới những xóm thôn, thị tứ, nơi những “người lành” cư ngụ. Họ bị coi là “kẻ xấu xa” v́ đă bị Thiên Chúa luận phạt ngay ở đời này v́ tội lỗi của ḿnh. Họ bị loại trừ ra khỏi xă hội loài người, sống lang thang vất vưởng như những bóng ma. Họ là những con ma sống, hay những xác chết c̣n thở hí hóp. Họ phải la to lên cảnh báo khi có người tới gần họ. Ai cũng không muốn “dây với người hủi”. Nhưng Đức Giêsu đă giơ tay đón anh ta, sờ vào anh ta. Khi đôi tay nhân lành chạm vào làn da “sượng sần và tê điếng”, lạ thay và cũng cao cả nhường bao! Làn da vô cảm ấy đă nhẵn nhụi, hồng hào lành lặn trở lại. Ai nói được hết nỗi vui của anh. Nhưng Đức Giêsu lại bảo anh phải gấp rút đi gặp các tư tế.
Đây là một thủ tục cần thiết để người phong có thể hội nhập lại xă hội. Chứng nhận của tư tế sẽ giúp cho gia đ́nh anh, bạn bè anh, bà con lối xóm vui ḷng đón anh trở lại xă hội người. Cứu người phong khỏi bệnh, Chúa c̣n trả lại nhân phẩm cho anh, cứu anh khỏi thân phận bị loại trừ, hất hủi.
Lệnh truyền thứ hai của Chúa đối với người phong là anh ta không được kể chuyện ḿnh cho ai nghe. Chi tiết này xem ra mâu thuẫn với việc phải đi bẩm báo các vị tư tế, và ư muốn cho anh hội nhập xă hội trở lại. Đương sự đă không thể giữ miệng được lâu. “Vừa ra khỏi đó, anh đă bắt đầu rao truyền và tung tin đó khắp nơi”. Anh đă trở thành người rao giảng Tin Mừng cứu độ, bởi v́ anh đă được cứu độ, được giải phóng. Việc anh loan báo tin vui đă khiến Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được. Chúa không muốn bị người ta xem Ngài là ông thầy lang mát tay, Ngài không muốn gây một sự cuồng nhiệt nơi quần chúng. Cho dù làm cho người ta hiểu đúng Tin Mừng của Chúa không phải là một điều dễ dàng.
Thánh Gioan đă gọi các phép lạ của Chúa là những “dấu chỉ”, Chứng tỏ vương quốc t́nh yêu, công b́nh, ḥa b́nh, hạnh phúc của Thiên Chúa đang đến với lịch sử nhân loại. Qua các phép lạ, Chúa muốn chứng tỏ v́ sao Chúa đến. Chúa đến không phải để làm thầy lang, người trừ qủi, người giảng thuyết, mà là để chia sẻ thân phận cùng khổ, tuyệt vọng của con người chúng ta, và để cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ. Như chúng ta vẫn thường tuyên xưng: “V́ loài người chúng tôi và để cứu chuộc chúng tôi, Người đă từ trời xuống thế”.
(Suy niệm của Noel Quesson)
Người phong cùi quỳ xuống cầu xin Chúa: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi”.
Bác sĩ Collins là một người vô tín, có kiến thức cao, ngày kia, gặp một bác nông dân đi lễ, ông lên tiếng hỏi:
- Bác đi đâu vậy?
- Tôi đi nhà thờ, thờ lạy Chúa.
- Chúa của bác to hay nhỏ?
- Thưa ông, Chúa rất lớn, đến mức các tầng trời không chứa nổi; nhưng Người cũng rất nhỏ, có thể ngự nơi trái tim tôi.
Câu nói của bác nông dân đă tóm gọn đầy đủ niềm tin vào Thiên Chúa: tin vào Chúa quyền năng, có thể làm được mọi sự. Đồng thời cũng tin rằng Chúa yêu thương ta triệt để, Người làm chủ trái tim ta. Người phong cùi kể trong Tin Mừng hôm nay đă cho ta thấy một ḷng tin như vậy.
Trong xă hội Do Thái thời Chúa Giêsu, người phong cùi là loại người đáng ghê tởm nhất. Họ không được ở chung với cha mẹ anh em trong nhà, không được tiếp xúc với dân làng. Họ phải sống thành nhóm riêng nơi mồ mả, chốn hoang vu. Mỗi khi thấy ai tới gần, họ phải la lên: “Ô uế! ô uế!” để người ta biết mà tránh xa họ. Luật Môsê cấm liên hệ với người phong cùi. Tṛ chuyện với họ là phạm luật, chưa kể sự đụng chạm tới thân xác họ. Trong hoàn cảnh cách ly đó, một người phong cùi đă nghe nói về Chúa Giêsu, anh tin tưởng Chúa có quyền cứu anh. Anh đón đường đến quỳ trước mặt Chúa và van xin: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi”.
Chuyện này xảy ra vào giai đoạn đầu cuộc sống công khai của Chúa Giêsu. Người ta chỉ mới nghe đồn về Chúa như một dấu lạ xuất hiện, nhưng người phong cùi này hẳn phải được ơn trên soi sáng, mới có được một ḷng tin đặc biệt như vậy. Anh đón gặp Chúa mà không sợ Ngài xua đuổi. Anh biểu lộ niềm tin, biết rơ Chúa có thể chữa ḿnh khỏi thứ bệnh nan y. Anh quỳ gối trước Chúa, tỏ ḷng tôn sùng, một thái độ người ta vốn dành cho thần linh, cho Thượng Đế.
Thấy ḷng tin của anh, Chúa xúc động thương cảm, giơ tay chạm vào người anh và nói: “Ta muốn anh được khỏi”. Chạm đến người phong cùi, Chúa đă phạm luật, khiến một số người đang ḍ xét Chúa phải bực bội v́ hành động này. Dĩ nhiên, Chúa muốn thay đổi những lệch lạc trong luật. Chúa có quyền và đến để làm việc đó. Nhưng ở đây, Chúa muốn tỏ ra Người đă hài ḷng trước ḷng tin vững mạnh của người phong cùi. T́nh yêu Chúa đă trao ban rộng răi và có thể phát sinh những hiệu quả kỳ diệu, khi con người tin tưởng mở rộng tâm hồn đón nhận.
Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần cho chúng con, nhờ Người soi sáng, chúng con luôn nhận ra Chúa quyền năng và yêu thương đang hiện diện trong cuộc sống chúng con. Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa lành chúng con và những người anh chị em bệnh nạn đang kêu cầu Chúa. Chúng con ngợi khen Ngài.
Người cha của một gia đ́nh ở
Idaho mới trở thành Kitô hữu. Ông nói về Chúa Kitô mỗi
lần có dịp. Ngày kia, người láng giềng vô thần
thử ông với một câu hỏi: “Thực sự anh có biết
ǵ về Đức Kitô không?”. Người đạo mới
trả lời: “Có, tôi biết”. Người vô thần hỏi:
“Người sinh ra bao giờ?”. Người đạo mới
không biết chắc. Tới câu hỏi khác: “Người chết
lúc Người bao nhiêu tuổi?”. Một lần nữa,
người đạo mới của Đức Kitô không
trả lời được. Quả thực câu trả lời
của ông quá yếu không xác thực đối với các
câu hỏi của người lối xóm. Cuối cùng
người vô thần la lên “Coi, anh chẳng biết ǵ về
Đức Kitô, phải không?”. Người đạo mới
trả lời quả quyết: “Tôi biết ít lắm.
Nhưng tôi biết điều này: hai năm trước
đây, tôi nằm đường, nằm chợ, tôi say
sưa, tôi mắc nợ ngập đầu. Hai năm
trước đây vợ tôi ít khi mỉm cười. Thấy
bóng tôi các con tôi sợ hăi. Nhưng ngày nay, tôi là một
người đàn ông tiết độ. Tôi sạch nợ
và c̣n đủ tiền để mua một căn nhà mới.
Ngày nay, vợ tôi thường tươi cười, các
con tôi chạy lại đón chào tôi. Chúa Kitô đă làm cho tôi tất
cả những điều ấy. Đó là điều tôi
biết”.
Rất giống người phong cùi trong Tin Mừng hôm nay. Anh không biết nhiều về Đức Kitô; nhưng anh biết một điều Đức Kitô đă chữa lành bệnh. Anh ra đi và loan truyền tin ấy. Mặc dù Đức Giêsu đă bảo anh: “Đừng nói với ai cả”.
Người phong cùi khỏi bệnh nói với mọi người. Đó là ư tưởng của ngày hôm nay. Bạn và tôi phải nói cho mọi người những ǵ mà Đức Giêsu đă làm cho mỗi người chúng ta. Cử chỉ Chúa làm cho người phong cùi cảm động và đáng chú ư: “Người giang tay đụng tới anh… và bỗng nhiên bệnh cùi biến mất”. Đức Giêsu c̣n giang tay và đụng tới bạn và tôi bằng nhiều cách.
Ví dụ: Đức Kitô đụng vào chúng ta bằng bí tích Rửa Tội, và làm chúng ta nên anh chị em của Người. Người đụng vào chúng ta với dầu Thêm Sức để ban cho chúng ta Thánh Linh Người đă hứa. Trong phép Giải Tội, Đức Kitô đụng tới chúng ta và chữa chúng ta khỏi phong cùi tội lỗi. Khi rước lễ, phép lạ hơn mọi phép lạ, Đức Giêsu không chỉ đụng tới chúng ta, mà c̣n đến và sống trong tâm hồn chúng ta. Khi Xức Dầu Bệnh Nhân, Người đụng tới thân thể yếu liệt và linh hồn run sợ của chúng ta, Người chữa lành tất cả. Người giang tay cho bạn là cô dâu, là chú rể để thánh hóa sự kết hợp hôn phối của bạn.
Đức Giêsu đặt tay trên tôi trong nghi lễ truyền chức để ban cho tôi quyền làm cho bạn nhiều việc Người đă làm. Chúng ta, người công giáo, như người phong cùi khỏi bệnh phải nói cho người khác những ǵ mà Đức Kitô đă làm cho chúng ta.
Chúng ta có thể dùng những lời của Đức Trinh Nữ Maria trong bài ca tán tụng Magnificat: “Chúa là Đấng Toàn Năng đă làm cho tôi muôn việc lớn lao”.
Việc của tôi, một linh mục là nói lên những ǵ Đức Kitô đă làm cho chúng ta. Bạn là cha, là mẹ phải nói cho con em bạn những ǵ Đức Kitô đă làm cho bạn và cho chúng. Bạn là giáo lư viên cũng làm như vậy. Tất cả chúng ta phải nói cho những người tin cũng như không tin bằng lời nói, bằng sách báo công giáo, những ǵ Thầy Chí Thánh đă làm cho chúng ta. Đặc biệt, những ǵ Người làm trong và qua Thánh Lễ: “Người đổ máu ra cho mọi người”.
Có thể chúng ta không biết nhiều về Đức Kitô. Nhưng chúng ta biết Người đă làm một sự thay đổi lớn - chúng ta được tốt hơn.
Xin Chúa chúc lành cho bạn.
So với những cử chỉ lớn lao,
th́ những cử chỉ nhỏ bé lại có thể giúp
chúng ta thấu hiểu hơn về tính cách của một
con người. Những điều lớn lao chứng tỏ
cho chúng ta về sức mạnh nơi một con người.
C̣n những điều nhỏ nhoi lại cho chúng ta thấy
được bản tính nhân loại nơi một con
người. Chúng ta có được ví dụ rất tốt
đẹp này trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó là cử chỉ
của Đức Giêsu, qua việc Người đụng
chạm vào kẻ bị phong hủi, trước khi chữa
lành cho anh ta. Mặc dù tự thân sự đụng chạm
là một điều nhỏ bé, nhưng trong bối cảnh
này, đó là một việc làm lớn lao. Chính những cử
chỉ nhỏ bé giống như vậy, lại khẳng
định được nhân cách và giá trị của con
người.
Ngày nay, người ta không c̣n sợ hăi bệnh phong hủi như trước đây. nếu người nào bị lây nhiễm căn bệnh này, mà được điều trị kịp thời, th́ họ có thể hoàn toàn khỏi bệnh, và không ai biết rằng họ đă từng bị mắc bệnh. Trong Kinh Thánh qua các thời kỳ, bệnh phong hủi là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất. Đối với dân chúng thời đó bệnh phong hủi tương tự như căn bệnh AIDS đối với chúng ta ngày nay.
Người mắc bệnh phong hủi bị cấm không được sống chung với cộng đồng, để bảo vệ cho cả cộng đồng khỏi bị lây nhiễm. Những người phong hủi cũng bị loại ra khỏi những sinh hoạt tôn giáo, bởi v́ họ bị coi là những kẻ không tinh sạch theo lễ nghi, và không ai dám liên lạc với họ. Do đó, họ là những kẻ sống ngoài lề xă hội và tôn giáo. Họ bị mọi người ruồng rẫy, khinh miệt và người ta tin rằng họ bị chính Thiên Chúa cũng ruồng rẫy, khinh miệt nữa. Nếu muốn công bố là đă khỏi bệnh, họ phải trải qua một lễ nghi thanh tẩy, trước khi được chấp nhận trở lại với cộng đồng.
Đức Giêsu biết tất cả những điều này. Tuy nhiên, Người đă vượt qua những cấm đoán của xă hội và tôn giáo. Đức Giêsu cho phép người phong hủi lại gần Người. Thế rồi Người đă làm một điều mà không ai ngờ. Người tiến đến gần, đụng chạm vào người phong hủi, trước khi chữa lành cho anh. Tại sao Người lại dám làm một điều mà lề luật cấm đoán? Sự đụng chạm đó cho thấy ḷng thương xót lớn lao của Đức Giêsu đối với người sống ngoài lề xă hội, kẻ tội lỗi và người đau khổ.
Người đụng chạm vào người phong hủi, để có thể chứng tỏ rằng tất cả mọi sự đều tinh sạch đối với người mà tự bản thân họ đă tinh sạch. Sự không tinh sạch bên ngoài không hề làm mất đi sự tinh sạch của tâm hồn. Người đụng chạm vào anh ta, để dạy cho chúng ta rằng không được khinh miệt bất cứ ai, và coi họ như là những kẻ đáng thương, bởi v́ nỗi đau đớn thể xác của họ. Người đụng chạm vào các thương tích của con người, không phải để cho các thương tích đó có thể dính chặt vào Người, mà là để Người có thể trừ khử chúng ta ra khỏi người đang bị đau đớn.
Đối với người phong hủi, cử chỉ đơn giản đó mang ư nghĩa của cả một thế giới. Nỗi đau khổ tệ hại nhất của người phong hủi không phải là tự thân căn bệnh, mà là nỗi đau đớn v́ bị tất cả mọi người ruồng rẫy. Khi đụng chạm vào người anh ta, Đức Giêsu đem đến cho anh một dấu hiệu của sự đón nhận, và sửa đổi nơi anh ư tưởng rằng ḿnh không tinh sạch, vô giá trị, không là ǵ cả, chỉ là một con người bỏ đi mà thôi.
Đức Giêsu đă có sự hiểu biết lớn lao, và có cảm xúc đối với những người đau khổ, Oscar Wilde nói về điều này như sau;
“Đức Giêsu đă thấu hiểu bệnh phong hủi của người phong hủi, sự tối tăm của người mù, sự bất hạnh do thói tự măn của những kẻ sống theo lạc thú, sự nghèo nàn đến kỳ lạ của những kẻ giàu có, sự thèm khát có thể dẫn con người đến t́nh trạng uống cả những gịng nước bùn lầy”.
Đức Giêsu nhấn mạnh đến khả năng thương xót của chúng ta. Người thách đố suy nghĩ của chúng ta về ḷng yêu mến. Mỗi người chúng ta đều có khả năng yêu thương lớn lao. Thật đáng tiếc là chúng ta thường không sử dụng đến khả năng yêu thương đó. Chúng ta có được khả năng này trong sức mạnh của chúng ta, để tiếp cận được với những người đang phải chịu đựng nỗi đau đớn của cảnh bị ruồng rẫy. Chúng ta có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang lại niềm say mê vui sống nơi người khác, và rồi từ đó, chúng ta phản ánh được một cách mờ nhạt về ḷng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Khi nh́n vào Đức Giêsu, chúng ta nhận ra được cách cư xử, mà một cộng đoàn Kitô hữu nên có, đối với những kẻ tội lỗi và những người bị xă hội ruồng bỏ. Trong thời đại của chúng ta, ai là những người phong hủi (sống ngoài lề xă hội)? Chúng ta đă nhận biết được cách cư xử của Đức Giêsu đối với họ. Vậy chúng ta phải cư xử với họ ra sao? Và theo mức độ con người, mỗi người chúng ta đều đă được Đức Kitô thanh tẩy trong phép Rửa tội, và chúng ta cần phải loan truyền tin vui.
Anh chị em thân mến,
Mẹ Têrêsa Calcutta đang chăm sóc một người bệnh đầy ghẻ lỡ bên đường. Anh hôi thối bẩn thỉu lắm. Khi Mẹ đang lau rửa cho anh, một nguời đi đường trông thấy nói với Mẹ: "Trả cho tôi một triệu đô la, tôi cũng không làm cái việc này." Mẹ nghe nói ngẩng đầu lên trả lời: "Phần tôi, tôi cũng vậy."... Đúng thế, điều Mẹ Têrêsa muốn nói ở đây là, Mẹ và Tu hội của Mẹ lo lắng cho người nghèo không phải v́ tiền, nhưng v́ Chúa Giêsu... Chúa Giêsu yêu thương người đau yếu, bệnh tật, người tội lỗi hèn kém biết bao; Chúa luôn muốn chữa lành và chúc phúc cho họ. Chính v́ điểm này mà Mẹ và Hội ḍng của Mẹ, đă quyết tâm lo lắng cho người nghèo. Đây chính là chủ đề mà Hội thánh mong muốn chúng ta t́m hiểu hôm nay.
a/. Trước hết, xin nói về quan niệm và Luật lệ của Do thái về bệnh cùi:
+ Họ coi bệnh cùi là một thứ bệnh rất ngặt nghèo, không chỉ khủng khiếp về thể xác mà c̣n là dấu hiệu của h́nh phạt do đă phạm một tội nào đó. Đọc qua bài Cựu Ước, trích sách Lê vi ở trên, ta thấy những qui định của Lề luật dành cho người lây nhiểm bệnh cùi thật là khủng khiếp (Levi 13, 2.44-46): "Nếu ai mắc bệnh phong cùi, tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế. Người ấy phải mặc áo rách, xơa tóc, che râu. Gặp ai phải tránh xa và kêu lên: ô uế! ô uế! Phải ở riêng ra; chổ ở của họ là bên ngoài trại."
+ Ta thử nh́n lại về những qui định dành cho người bị bệnh cùi: Trước hết, khi trên da thịt của người nào có dấu hiệu nhọt, lát, hoặc đốm, mà đă được tư tế xác nhận là dấu hiệu bệnh cùi, ông sẽ tuyên bố người đó bị ô uế. Nhưng ta thử nghĩ, thời Chúa Giêsu, làm ǵ có những dụng cụ thử nghiệm chính xác như của ngày hôm nay, nên sẽ có rất nhiều lầm lẫn, nhất là khi tư tế không có cảm t́nh với người đó, kể cả v́ ganh tị, hay để trả thù...Kế đến, vị tư tế sẽ công bố người bị phong cùi là hạng ô uế. Mà nếu bị coi là ô uế, cuộc đời của họ kể "tàn rồi", v́ họ coi bệnh cùi là không chữa được, và hầu như vĩnh viển bị loại trừ ra khỏi cộng đồng xă hội, nhất là lễ nghi thờ phượng của người do thái. Lúc đó, người bệnh c̣n sống mà kể như đă chết. Cộng đồng coi người cùi là đáng sợ, v́ họ ô uế, nên nếu cho họ gia nhập cộng đồng, cộng đồng sẽ bị ô uế luôn. Sau cùng, người bị bệnh phong cùi ít đau khổ thể xác hơn là tinh thần, v́ họ cảm thấy bị mọi người sợ hải, cảm thấy bị khinh miệt, bị ghê tởm, nhất là bị xếp loại vào hạng người đang sống dưới ách của thần ô uế, bị phán xét là tội lỗi, bị Chúa chúc dữ và trừng phạt.
b/. Phần này chúng ta nói về việc anh cùi đến với Chúa Giêsu và cách Chúa chữa lành cho anh ta.
+ Bài Tin mừng thuật lại việc anh đi đến với Chúa Giêsu rất cụ thể: Anh đến bên Chúa Giêsu, qú xuống và van xin: "lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.." Đối với anh cùi, Chúa Giêsu là Đấng có thể chữa lành mọi bệnh tật cho anh, v́ anh tin Chúa có sức mạnh chiến thắng thần ô uế. Anh đặt hết niềm tin vào Người. Có thể lâu nay, anh nghe người ta nói về Thầy Giêsu có quyền năng cao cả như thế, và anh chỉ tin vào Thầy Giêsu, không tin vào ai cả, kể cả các tư tế, hay chính gia đ́nh anh nữa. V́ thế, anh không tuân theo qui chế dành cho người cùi, gặp người khác là bỏ chạy c̣n la "ô uế" nữa. Anh đă lên đường, lên con đường của ḷng tin, con đường dẫn đến Đấng chữa lành cho nhân loại, và với ḷng tin mạnh mẻ, anh nói: "Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể....."
+ Phần Chúa Giêsu, Phúc âm nói: "Chúa chạnh ḷng thương..." v́ Nguời hiểu được tâm trạng của anh cùi, hiểu được ḷng tin của anh, nên Người đă chữa cho anh ngay: "Ta muốn, anh hăy được sạch". Chúa không chỉ chữa lành cho anh tật bệnh phần xác, mà chữa lành cho cả tật bệnh tâm hồn. Người chữa cho anh khỏi bị nguyền rủa là ô uế, chữa cho anh khỏi tiếng oan rất nặng nề là bị Chúa trừng phạt, giải thoát cho anh khỏi mặc cảm hèn kém, phục hồi cho anh t́nh trạng nguyên vẹn là một con người được b́nh đẳng trong xă hội, cả trong nghi lễ phụng thờ tôn giáo của do thái nữa...
Đó chính là Lời Thiên Chúa có sức chữa lành cho anh. Lời Thiên Chúa muốn anh lành mạnh, muốn anh không yếu đuối, muốn anh sống trong niềm tự tin, không mặc cảm, muốn anh không khuất phục quyền uy của ma quỉ, muốn anh sau khi chữa lành, được phục hồi toàn vẹn "h́nh ảnh của Thiên Chúa" lúc tạo dựng, nhờ cái chết của Con Chí ái của Ngài...
c/. Gợi ư sống và chia sẻ: Anh cùi trong Tin mừng hôm nay, đă quá đau khổ thể xác, cũng quá đau khổ trong tâm hồn. Chúa Giêsu hiểu anh ta lắm, cả ḷng tin của anh ta nữa, nên Chúa đă chữa lành cho anh ta. Phần chúng ta hôm nay, khi yếu đuối, sa ngă, ta có muốn Chúa Giêsu chữa lành tội lỗi của ta, là tật bệnh phần hồn không?
Cho đến thời Chúa Giêsu, luật lệ
Do thái vẫn rất khắt khe đối với những
người phong cùi. Những luật lệ này đă có từ
thời ông Môsê được ghi lại trong chương
13 sách Lêvi, qui định rất tỉ mỉ và rơ ràng những
trường hợp người bị cùi và cách đối
xử với những người ấy. Nghĩa là khi có
những triệu chứng bệnh ngoài da, người bệnh
phải đến gặp tư tế để khám nghiệm.
Nếu là phong cùi th́ tư tế sẽ tuyên bố người
đó không thanh sạch. Từ đó họ không được
ở chung với người lành, không được ở
trong làng, nhưng phải sống biệt lập trong hoang
địa, không được tham gia bất cứ sinh hoạt
nào. Họ không được tới gần người
lành, cũng không được để người lành
tới gần. Họ phải mặc áo rách, để tóc
bù xù, và khi thấy người lành th́ phải hô to: “dơ,
dơ” để người ta biết mà tránh xa. Nếu họ
đụng tới người lành hay người lành
đụng tới họ th́ người ấy trở
thành dơ bẩn và bị khai trừ trong thời gian luật
định.
Như vậy, khi đă mắc bệnh cùi là mặc nhiên bị đẩy vào một cái chết dần ṃn khủng khiếp. Chẳng những thế, kẻ mắc bệnh cùi c̣n bị xă hội nguyền rủa và xa lánh. Thân xác tiêu hao, tinh thần băng hoại, đời sống người bệnh không c̣n ǵ khác hơn là những tháng ngày rên siết đau thương trong khốn cùng tuyệt vọng.
Hiểu rơ số phận người cùi như vậy, chúng ta sẽ hiểu được trường hợp người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay. Một người cùi đến gần Chúa Giêsu và Chúa đă chữa cho người ấy được lành sạch. Như thế, người cùi này đă vượt qua các hàng rào mà luật đặt cho người cùi. Và chính Chúa Giêsu cũng đă vượt qua hàng rào luật định khi Ngài chạm tới người cùi. Nghĩa là với ḷng tin mạnh mẽ người cùi đón đường và đến gần Chúa. C̣n Chúa, thay v́ xa lánh như luật cấm, Ngài giơ tay chạm đến người bệnh. Việc Ngài chạm tới người cùi không làm cho Ngài ra dơ bẩn mà lại làm cho người cùi được lành sạch. Ngài không phạm luật nhưng Ngài làm cho luật nên hoàn hảo.
Thái độ của người cùi này đáng cho chúng ta suy nghĩ. Dù với tâm trạng e dè sợ sệt, anh vẫn tin tưởng kêu xin. Lời cầu xin ấy không phải là một hoài nghi, nhưng diễn tả một niềm tin hoàn toàn phó thác cho t́nh thương của Chúa Giêsu giữa cảnh cùng đường tuyệt vọng. Trước thái độ tin tưởng khiêm tốn của anh, Chúa Giêsu rất hài ḷng, Ngài đặt nhẹ tay trên vai anh và chữa anh lành bệnh bằng một lời đầy âu yếm: “Tôi muốn, anh hăy được sạch”.
Đặt tay hay đụng chạm đến người cùi là một cử chỉ mà lề luật không cho phép và cấm ngặt, v́ nó sẽ làm cho con người ra dơ bẩn. Và với quyền năng của ḿnh, không cần đụng chạm vào người cùi, Chúa Giêsu vẫn có thể chữa lành anh ta. Thế nhưng, t́nh yêu dâng hiến sẽ nhận được t́nh yêu đáp trả. Tâm t́nh tin yêu của người cùi đă được Chúa Giêsu đáp lại bằng cử chỉ yêu thương của Ngài.
Câu truyện người cùi trên đây tuy ngắn gọn, nhưng diễn tả được đậm nét nguyên tắc sống của người Kitô hữu: không bi quan về cuộc sống. Không bao giờ mất tin tưởng, dầu cuộc đời xem ra như chẳng c̣n lối thoát. Và nhất là không bao giờ được quên t́nh yêu thương săn sóc của Cha trên trời. Bởi v́ chẳng có ǵ ngăn cản con người t́m đến với t́nh yêu Thiên Chúa. Dù cho cuộc sống có tăm tối u buồn, quanh ta chẳng c̣n người cảm thông, th́ vẫn c̣n Chúa Giêsu, Ngài luôn chờ đón và sẵn sàng đáp lời chúng ta. Và chúng ta hăy đến với Ngài để học nơi Ngài cách đáp trả.
Chúng ta đừng bao giờ tự làm cho ḿnh thành người mắc bệnh cùi và cũng đừng làm cho những người sống chung quanh ḿnh thành những người cùi. Nghĩa là có những người cư xử như ḿnh bị cùi, khi tự xây cho ḿnh pháo đài ích kỷ, lập dị… Có những người khác lại đối xử với anh em như những người cùi, khi làm cho anh em cô đơn hoàn toàn, do lời nói hay thái độ chia rẽ, phân biệt đối xử… Chẳng hạn có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh theo kiểu dân Do thái xa lánh người cùi. Hoặc chúng ta từ chối tiếp xúc, hợp tác với cá nhân này hay tập thể nọ chỉ v́ họ không cùng tín ngưỡng hay không đồng tư tưởng với chúng ta. Nếu sống như vậy là chúng ta tự làm cho ḿnh mắc bệnh cùi và làm cho anh em trở thành người cùi.
Chúng ta đừng bao giờ sống như thế, chúng ta đừng bao giờ tự cô lập ḿnh, đừng bao giờ gây chia rẽ; trái lại, hăy luôn sống cởi mở với mọi người, đối xử với mọi người trong tinh thần yêu thương và hợp tác.
Lạc quan vui sống là đặc tính cơ bản của người Kitô hữu. Chúng ta cần phải lạc quan v́ nhận thức được phẩm giá làm người và làm con Chúa của ḿnh. Chúng ta lạc quan vui sống v́ biết rằng ḿnh luôn được Thiên Chúa yêu thương săn sóc. Chúng ta lạc quan vui sống v́ biết rằng đàng sau mọi gian nan thử thách của cuộc đời, luôn có Thiên Chúa hiện diện để bảo vệ và nâng đỡ, để an ủi và khích lệ. Mỗi ngày có những đau khổ, nhưng cũng lại có niềm vui. Người Kitô chúng ta luôn biết vươn ḿnh trên đau khổ để đón nhận niềm vui được trao ban từ tấm ḷng, từ bàn tay, từ nụ cười của Thiên Chúa yêu thương. Một cuộc sống như thế phải là điều b́nh thường cho những ai biết đặt trọn niềm tin vào t́nh yêu Thiên Chúa. Một cuộc sống như thế không những chỉ là nguồn vui cho riêng ḿnh mà c̣n mang hạnh phúc đến cho gia đ́nh, cho xă hội nữa.
(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
Trong cuộc sống chung với mọi người, chúng ta nhận thấy có một số người bị người khác khinh bỉ lánh xa; có khi chính chúng ta cũng bị xa lánh như thế. Tại sao? Lời Chúa hôm nay sẽ dạy rơ cho chúng ta về vấn đề này. Chúng ta hăy chăm chú lắng nghe Lời Chúa và xin Chúa giúp chúng ta sống theo lời Ngài dạy.
II. Gợi ư sám hối
- Tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta ra nhơ uế, không xứng đáng đến với Chúa. Chúng ta hăy thành tâm sám hối tội lỗi và xin Chúa tẩy sạch tâm hồn chúng ta.
- Nhiều lần chúng ta tự làm nhơ uế đầu óc ḿnh bằng những sách báo, phim ảnh đồi truỵ và những câu chuyện khiếm nhă.
- Chúng ta cũng làm nhơ uế trái tim ḿnh do cách sống ích kỷ và giận hờn ganh ghét.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Lv 13, 1-2. 45-46)
Đoạn này là một phần của sách Lêvi được các chuyên viên gọi là "Luật về sự tinh sạch". Đoạn này đề cập riêng về bệnh cùi. Nhưng quan niệm về "bệnh cùi" không giống với quan niệm ngày nay:
- Tất cả những hiện tượng về da liễu (ung nhọt, da đổi màu hoặc bóng láng) đều bị gọi là "cùi". Người ta c̣n nghĩ rằng bệnh cùi rất lây, cho nên sách Lêvi buộc những người mắc bệnh ấy phải ở riêng.
- Hơn nữa, người ta c̣n nghĩ bệnh này có liên hệ đến tôn giáo: trong quan niệm chung rằng bệnh tật là h́nh phạt của tội lỗi, và bệnh cùi là thứ bệnh nặng nhất, người thời đó cho kẻ mắc bệnh cùi đă phạm tội rất nặng. Do đó người bắt đầu bị cùi phải đến tŕnh diện với tư tế, và sau này "nếu" khỏi bệnh th́ cũng phải được tư tế xác nhận. Thực ra, đó chỉ là một chữ "nếu" to tướng, v́ người ta đều coi cùi là một chứng nan y không thể nào khỏi, trừ khi chính Thiên Chúa ra tay cứu chữa.
V́ vậy, người nào cứu chữa được bệnh cùi, như Êlisê và Đức Giêsu, th́ chứng tỏ người ấy có uy quyền đặc biệt do Thiên Chúa ban.
2. Đáp ca (Tv 31)
Ca tụng sự tha thứ của Thiên Chúa và hạnh phúc của người được tha thứ.
3. Tin Mừng (Mc 1, 40-45)
Như đă nói trong phần giải thích bài đọc I, người Do Thái coi bệnh cùi là a/ chứng nan y chỉ có Thiên Chúa mới chữa khỏi; b/ chứng bệnh rất hay lây; c/ có liên hệ đến tội lỗi.
Người cùi trong bài Tin Mừng này nói với Đức Giêsu "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". Điều này chứng tỏ anh tin rằng Đức Giêsu là người của Thiên Chúa.
Đức Giêsu đưa tay đặt trên người ấy: chứng tỏ Ngài không sợ lây bệnh, nhất là Ngài không ghê tởm kẻ mắc bệnh cùi.
Ngài chữa bệnh một cách rất nhanh chóng và dễ dàng: chứng tỏ Ngài có uy quyền đặc biệt của Thiên Chúa.
4. Bài đọc II (1 Cr 10, 31--11, 1)
Đoạn thư này tuy không đề cập đến bệnh cùi, nhưng cũng chung một vấn đề, đó là "sạch và dơ". Người Do Thái thời thánh Phaolô cũng c̣n phân biệt những thức ăn "sạch" và thức ăn "dơ". Thánh Phaolô đả phá sự phân biệt đó. Điều quan trọng không phải là cân nhắc thức ăn nào sạch hay dơ, mà là dù khi ăn, dù khi uống, dù khi làm bất cứ việc ǵ khác th́ đều phải có ư làm cho sáng danh Chúa.
IV. Gợi ư giảng
* 1. Thứ bệnh "cùi" nguy hiểm hơn
Những kiến thức y khoa ngày nay giúp chúng ta không c̣n quá sợ bệnh cùi Hansen nữa.
Nhưng chúng ta phải cảnh giác với một thứ bệnh cùi đặc biệt với những nét mà bài Tin Mừng hôm nay mô tả: Đó là một thứ tội thực sự làm cho tâm hồn con người ra nhơ uế, lại có sức truyền nhiễm rất mạnh, và do đó đáng bị mọi người xa lánh.
Tội "cùi" ấy là ǵ? Là tội có những ư nghĩ xấu và tội loan truyền những ư nghĩ xấu ấy.
Ebba de Pauli trong quyển "Vị ẩn sĩ" đă mô tả một người cùi như thế: Đó là một bà trung lưu và có thể nói là "đạo đức". Bà không phải bận bịu với việc sinh nhai, bà có nhiều giờ để đi nhà thờ đọc kinh dự lễ, và vẫn c̣n nhiều giờ để t́m nói chuyện với người này người nọ. Nhưng bà không hiểu tại sao người ta cứ muốn xa lánh bà. Một nhóm người đang tṛ chuyện với nhau vui vẻ nhưng khi vừa thấy bóng dáng bà th́ mọi người đều im bặt. Có người vừa thấy bà xa xa th́ đă lẫn đi nơi khác. Bà đến hỏi ư kiến với Vị Ẩn Sĩ. Sau khi hỏi bà một số chi tiết, Vị Ẩn Sĩ kết luận:
- Sở dĩ người ta xa lánh bà v́ họ coi bà là một con rắn độc!
- Nhưng sao họ coi tôi là rắn độc?
- V́ trong đầu óc bà đầy những ư tưởng độc hại, như nghĩ xấu về người khác, hằn học, đố kỵ, bi quan... Nghe bà nói, người ta cảm thấy tâm hồn ḿnh chùn xuống, cuộc sống ḿnh buồn thảm hơn.
- Vậy xin ngài chỉ cho tôi phải làm sao.
Vị Ẩn Sĩ khuyên bà thay đổi cách suy nghĩ và cách giao tiếp: từ nay hăy nuôi trong đầu ḿnh những ư tưởng tốt lành; khi nói chuyện với người khác, hăy chia xẻ những ư nghĩ tốt lành ấy, rồi mọi sự sẽ khá hơn.
Bà này làm theo. Và kết quả đúng như Vị Ẩn Sĩ tiên báo.
* 2. Những "con hủi"
Hoàn cảnh đáng thương của người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay không phải v́ anh mắc một chứng bệnh ô uế và hay lây, v́ thực ra nếu xét theo y khoa bây giờ th́ bệnh anh không đến nỗi như thế. Anh đáng thương v́ người ta nghĩ anh như thế nên ghê tởm và xa lánh anh.
Có nhiều người tuy không "cùi" nhưng vẫn bị coi là "con hủi" do bị mọi người khinh tởm tránh xa.
Nhưng Đức Giêsu th́ không. Ngài rất thương và rất gần gũi với những "con hủi" ấy, chẳng hạn những người thu thuế, đĩ điếm, trộm cắp v. v.
* 3. Nỗi khổ bị xua đuổi
Bệnh cùi là một bệnh khủng khiếp. Tuy nhiên nó không khủng khiếp bằng nỗi khổ bị xua đuổi. Có thể nói, đau khổ lớn nhất của con là bị người khác xua đuổi, v́ sự xua đuổi khiến người ta cảm thấy cô đơn, thấy ḿnh không c̣n phẩm giá ǵ nữa, thậm chí nó c̣n khiến người ta nổi loạn.
Trẻ con mà bị cha mẹ xua đuổi th́ kể như chết. Người lớn th́ sợ bị xua đuổi c̣n hơn phải chịu tất cả mọi đau khổ khác dồn lại. Vết thương làm người tàn tật đau đớn nhất không phải là chứng bệnh thể xác hay tinh thần người đó đang mắc phải, mà là bị người khác xa lánh.
Người cùi đến với Đức Giêsu trong bài Tin Mừng này là một người bị xua đuổi. V́ cùi, anh không được sống chung với người khác trong xă hội. Anh phải tránh không để cho người khác chạm tới ḿnh. Hơn nữa v́ người ta coi người cùi là kẻ tội lỗi bị Chúa phạt, nên anh c̣n thêm mặc cảm ḿnh bị chính Thiên Chúa xua đuổi nữa.
Điểm hay trong chuyện này không phải là việc Đức Giêsu chữa anh này khỏi bệnh cùi, mà là cách Ngài đối xử với anh. Khi thấy anh đến gần ḿnh, Ngài không xua đuổi, nhưng để anh đến. Chẳng những thế Ngài c̣n giơ tay đụng vào anh. Bằng cử chỉ giơ tay đụng vào anh như thế, Đức Giêsu tỏ dấu hoan nghênh anh, đón nhận anh. Và thái độ hoan nghênh đón nhận đó đă chữa anh khỏi mặc cảm và nỗi đau bị xua đuổi. Cho nên có thể nói, trước khi chữa bệnh thể xác cho anh, Ngài đă chữa lành tinh thần của anh.
Khi ta xua đuổi ai th́ ta cũng coi người đó là cùi mặc dù có lẽ ta không ư thức rơ như thế. Ta có thể xua đuổi người khác bằng nhiều cách tuy nhỏ nhưng tế nhị, như giọng nói thế nào đó, một cách nh́n thế nào đó v. v. Đó là những mũi kim đâm rất nhỏ nhưng gây đau đớn rất lâu. (Viết theo Flor Mc Carthy)
* 4. Bệnh phong cùi
Một vụ nổ đă làm cho chú bé bảy tuổi bị phỏng nặng ở đôi chân, đến nỗi các bác sĩ đă nghĩ rằng cần phải cưa chúng. Người ta nói với mẹ cậu: "Thằng Glenn của chị sắp thành kẻ tàn phế suốt đời đấy".
Thế mà hai năm sau với niềm tin mạnh mẽ, cậu đă rời bỏ cặp nạng, chẳng những đi bộ mà cậu c̣n chạy được nữa. Dù chạy không nhanh lắm, nhưng vẫn chạy được.
Cuối cùng, cậu thi đậu đại học. Môn ngoại khoa của cậu là chạy đua. Quả thật, cậu đă làm cho mọi người phải kinh ngạc. Cậu lần lượt phá kỷ lục ở liên đại học.
Thi đại hội Olympic Berlin, chẳng những cậu được đánh giá là vận động viên xuất sắc môn chạy 1500 mét, mà cậu c̣n phá kỷ lục Olympic về môn này.
*
Với niềm tin vào khả năng của chính ḿnh, cậu bé tưởng chừng như một phế nhân, đă trở thành vận động viên chạy nhanh nhất thế giới. Với niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa, người phong cùi tưởng chừng như suốt đời sống trong căn bệnh ghê tởm nhất, đă trở nên lành sạch.
Đối với người Do thái, kẻ mắc bệnh phong cùi bị coi như Thiên Chúa chúc dữ và xă hội loại bỏ. Không được tham dự nghi lễ trong hội đường. Họ là thành phần tội lỗi, phải sống thành từng nhóm nơi mồ mả, phải la lên "ô uế" để mọi người tránh xa. Ai tṛ chuyện với họ là phạm luật. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, người phong cùi đă hết ḷng tin tưởng quyền năng của Đức Giêsu, nên anh đă quỳ xuống van xin: "Nếu Người muốn, Người có thể khiến tôi nên sạch" (Mc. 1, 40).
Thấy ḷng tin của anh, Đức Giêsu động ḷng thương, giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hăy khỏi bệnh" (Mc. 1, 41). Chạm đến người phong cùi, Đức Giêsu đă phạm luật, khiến người ta khó chịu. Người muốn thay đổi những lệch lạc trong luật. Qua việc đặt tay của Đức Giêsu, con người được tiếp xúc thần tính của Người, nhờ đó được nhận lănh ân sủng là sức sống của Người. Chính v́ thế mà bệnh phong biến mất và anh ta được sạch.
M. Carré có nói: "Sống trong một thế giới đầy đau khổ trước mắt, th́ chúng ta phải là những nhà chuyên môn của niềm tin tưởng cậy trông". Vâng, trong lúc đau đớn tột cùng nơi thân xác v́ bị vi trùng Hansen gặm nhắm rúc rỉa; trong lúc tâm hồn tan nát v́ bị mọi người kinh tởm xa cách, chính trong lúc đau khổ ngút ngàn ấy người phong cùi lại hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa và trọn vẹn phó thác cho t́nh yêu của Người.
V́ thế Đức Giêsu chỉ c̣n biết rộng răi trao ban t́nh yêu của Người, để làm phát sinh một hiệu quả vô cùng diệu kỳ là cho anh lành sạch cả thể xác lẫn tâm hồn. G. Bossis viết: "Hăy tin và tin nhiều hơn nữa cho đến khi xảy ra phép lạ".
Bí quyết trở nên hùng cường của nước Mỹ được in trên đồng tiền của họ, đó là câu: "In God we trust" (Chúng tôi tin vào Thiên Chúa). Thánh Phanxicô Salêsiô nói: "Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta c̣n gắn chặt vào Thiên Chúa".
*
Lạy Chúa, trong cơn đau khổ cùng quẫn, chúng con vẫn tin tưởng nơi Người, chỉ một ḿnh Người thôi. Trong bóng đêm cô đơn trống vắng, chúng con vẫn cậy trông nơi Người; tất cả nơi Người.
Xin cho chúng con nhận ra quyền năng và t́nh yêu của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin thương chữa lành mọi bệnh tật xác hồn chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
* 5. Chạm vào
Nhiều người chúng ta sợ chạm vào người khác.
Thà cho người ăn mày một vài xu, nhưng đừng để người ấy chạm tới ḿnh.
Đức Giêsu th́ khác. Ngài không đứng xa, không ngại chạm vào.
Ngài chạm vào những người cùi, những người tội lỗi, những người bệnh tật, và cả những người chết.
Những cái chạm thân ái làm cho ḷng người đang lạnh giá được ấm lại và những cơi ḷng buồn sầu được vui mừng sung sướng.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim ấm áp và một đôi tay dịu dàng. (Flor Mc Carthy)
* 6. Chúa chạm vào
Người phong cùi nói với Đức Giêsu: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch". Đức Giêsu chạnh ḷng thương đưa tay đụng vào anh và bảo "Tôi muốn, anh hăy được sạch"
Mẫu đối thoại ngắn này gợi cho tôi nhiều ư tưởng:
+ Xét về mặt thiêng liêng th́ ai cũng đều "cùi" v́ ai cũng có tội.
+ "Nếu Ngài muốn": Đức Giêsu có muốn cho chúng ta hết "cùi" thiêng liêng không? Dĩ nhiên là muốn, rất muốn, v́ Đức Giêsu đến trần gian là để rửa sách tội lỗi cho loài người. Bởi vậy Ngài đă trả lời cho người cùi: "Tôi muốn"
+ Người cùi trong bài Tin Mừng được sạch nhờ Đức Giêsu đụng tay vào anh. Chúng ta ngày nay không chỉ được Đức Giêsu đụng tay vào, mà c̣n được rước Chúa vào trong cơ thể chúng ta mỗi khi chúng ta rước lễ.
7. Ư nghĩa việc làm của Đức Giêsu
Các sách Tin Mừng tŕnh bày Đức Giêsu luôn làm hai việc: chữa bệnh và rao giảng Tin Mừng. Hai việc này không riêng rẻ nhưng song song nhau và hỗ trợ cho nhau. Nói cách khác, Đức Giêsu không rao giảng suông, mà vừa rao giảng vừa chữa bệnh. Việc chữa bệnh hỗ trợ cho việc rao giảng. Ta cũng có thể nói: chữa bệnh là một cách rao giảng Tin Mừng.
Người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay chẳng những được chữa bệnh mà c̣n được đón nhận Tin Mừng. Chẳng những thế, sau khi khỏi bệnh, chính anh lại trở thành kẻ loan báo Tin Mừng: "Đi khỏi nơi đó, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó... và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người".
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă không ngại đụng chạm đến người cùi để chữa lành và tỏ ḷng yêu thương họ. Chúng ta xin Đức Giêsu thương chữa lành cho mọi bệnh tật phần hồn và phần xác cho chúng ta:
1. Trong Hội thánh có nhiều người mắc bệnh cùi thiêng liêng là sống trong t́nh trạng tội nặng / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ sớm chạy đến ṭa cáo giải để được lành sạch.
2. Trên thế giới có đủ các thứ bệnh tật cả phần xác lẫn phần hồn / Chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền biết quan tâm để mọi người dân được chữa bệnh cả phần xác lẫn phần hồn.
3. Ngày nay ở khắp nơi có nhiều người mắc những bệnh hiểm nghèo không thể chữa được như ung thư, sida / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ luôn được nhiều người yêu thương và ủi an.
4. Trong xứ đạo chúng ta có nhiều người mắc bệnh cùi thiêng liêng mà không ư thức và không muốn chữa lành / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ gặp dịp để ăn năn sám hối và chạy đến với Chúa để được chữa lành.
Chủ tế : Lạy Đức Giêsu, Chúa luôn luôn muốn chữa lành mọi bệnh tật phần hồn phần xác cho chúng con, Xin cho chúng con biết tin tưởng và t́m đến với Chúa, để Chúa chữa lành cho chúng con. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. Trong Thánh lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Như những đứa con bệnh hoạn tật nguyền v́ những chứng bệnh phần hồn, phần xác, chúng ta hăy dâng lên Thiên Chúa là Cha chúng ta lời kinh sau đây: "Lạy Cha chúng con ở trên trời..."
- Sau kinh Lạy Cha: "Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, nhất là sự dữ làm cho tâm hồn chúng con ra nhơ uế, và sự dữ tách chúng con ra khỏi nếp sống cộng đoàn yêu thương, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được b́nh an..."
VII. Giải tán
Nhờ linh dược của Thánh Thể, mọi bệnh tật nhơ uế trong tâm hồn chúng ta đă được sạch. Chúng ta hăy ra về và giúp cho anh chị em chúng ta cũng được lành sạch như vậy.
Trong Kinh Thánh qua các thời kỳ, người
ta tin rằng căn bệnh phong hủi rất hay lây nhiễm.
V́ lư do đó, những người phong hủi bị bắt
buộc phải sống bên ngoài cộng đồng. Người
ta biết đến họ như là những người
không thể đụng chạm vào được. Sự
hiện hữu của họ quả thật là lạnh
lùng, cô độc. Họ phải sống xa cách với mái
nhà, gia đ́nh và bạn bè của họ. Họ là những
con người đă từng ḥa ḿnh trong cuộc sống,
thế mà hiện nay, họ không là ǵ cả. Cuộc đời
của họ là một cái chết sống động.
Người ta tin rằng họ bị Thiên Chúa nguyền rủa.
Người ta cho rằng họ không chỉ là những kẻ
bệnh hoạn, mà c̣n không tinh sạch nữa. Người
đàn ông đang tiến lại gần Đức Giêsu
chính là loại người đó. Anh ta không được
xuất hiện trước công chúng, mà không rung chuông, hoặc
không la to lên báo hiệu, để cho mọi người cảnh
giác. Anh ta có nguy cơ bị xua đuổi bằng những
cục đá. Nhưng anh ta quyết định đi gặp
một người, mà anh ta tin rằng sẽ không xua đuổi
anh.
Đức Giêsu nh́n thấy người phong hủi đang lại gần, và cho phép anh ta tiến thẳng đến với Người. Liệu Người có đụng chạm vào người phong hủi này không? Nếu Người sờ tay vào người phong hủi, th́ Người sẽ nói ǵ? Nếu Người không sờ tay vào người phong hủi, th́ Người sẽ nói ǵ? Nhận thấy t́nh trạng bi đát của anh ta, Đức Giêsu đă động ḷng thương, Người tiến lại gần và sờ vào anh. Đây là một hành động biểu tượng, chắc chắn sẽ gây sốc cho những người xem. (Người ta nhận thấy ở bắc Ailen, thậm chí ngay cả một cái bắt tay đơn giản, cũng có thể gây rắc rối). Khi đụng chạm vào người phong hủi, th́ Đức Giêsu đă tự biến ḿnh thành một người không tinh sạch. Hầu hết mọi người trong chúng ta đều e ngại người đau yếu và người nghèo khổ. Chúng ta có thể cho người ăn xin một vài đồng lẻ, nhưng chắc chắn chúng ta không hề có tương quan ǵ đối với họ. tuy nhiên, chúng ta lại thích được đụng chạm vào. Chúng ta cảm thấy vinh dự, khi được một nhân vật quan trọng nào đó bắt tay, hoặc vỗ vào lưng chúng ta.
Chắc hẳn là sự tiếp xúc về mặt thể lư tạo cho mọi người, đặc biệt là những người đau yếu và bị thương tật, một cảm giác nồng ấm và vui tươi. Chính khi đụng chạm vào người khác, chúng ta cảm nhận được một cách chính xác về người đó. Đức Giêsu đă đụng chạm vào những người phong hủi, tội lỗi, đau yếu và kẻ chết.
Bạn hăy thử tưởng tượng xem người phong hủi cảm thấy sung sướng đến thế nào, khi Đức Giêsu đụng chạm vào người anh ta. Trước hết, anh ta cảm thấy ḿnh là một con người. Thân xác của anh ta đă bị tổn thương sâu xa hơn – do cảm giác rằng ḿnh bị tất cả mọi người, kể ac Thiên Chúa, xua đuổi và bỏ rơi. Bằng cách đụng chạm vào anh ta, Đức Giêsu đă chữa lành tinh thần bị tổn thương của anh ta. Thế rồi người phong hủi nói “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.
Đức Giêsu đáp: “Tất nhiên là tôi muốn”. Và Người đă chữa lành cho anh. Bây giờ, anh được chữa lành cả về thân xác nữa, hoàn toàn được lành lặn.
Nơi người y bác sĩ, ḷng từ ái hầu như là một điều quan trọng nhất đối với một bệnh nhân. Khi người ta xuất viện sau một cuộc phẫu thuật hoặc một cơn bệnh, một trong những điều mà người ta luôn phê b́nh, đó là về cách cư xử của các bác sỹ và y tá.
Đức Giêsu yêu cầu người phong hủi im lặng về việc chữa bệnh của Người. Nhưng người này lại loan báo đi khắp mọi nơi về điều mà Đức Giêsu đă làm cho anh ta. Và anh ta không chỉ nói về sự kiện Đức Giêsu chữa lành cho anh, nhưng anh ta c̣n nói về tấm ḷng từ ái và sự tôn trọng thật đáng kinh ngạc, mà Người đă cư xử với anh.
Đức Giêsu đưa bàn tay đầy yêu thương và chữa lành về phía một người hạ đẳng. Người thách đố chúng ta – những kẻ đi theo Người – trong việc tiếp cận với những con người mà ngày nay xă hội ruồng bỏ: các tù nhân, những người nghiện ma túy, những lữ khách, các nạn nhân Aids…
Những điều mà người ta có thể làm cho người khác thật đáng kinh ngạc. Người ta có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang đến niềm vui sống, thông truyền cảm hứng cho những kế hoạch tương lai, phục hồi ḷng tự trọng và tự hào. Thậm chí người ta c̣n có thể phản ánh một cách lờ mờ về ḷng từ ái vô biên của Thiên Chúa nữa.
Như chúng ta đă biết, bệnh phong cùi
là một chứng bệnh hiểm nghèo, rất khó chữa
trị. Nó làm cho người mắc phải, bị đau
đớn nhức nhối, và trở nên hôi thối. Nó gậm
nhấm các chi thể, làm cho các chi thể bị băng hoại,
chết dần chết ṃn và sau cùng bị rơi rụng.
Hơn thế nữa, nó c̣n là một chứng bệnh rất hay lây, v́ thế người ta thường cô lập những kẻ mắc phải chứng bệnh này ở một nơi riêng rẽ, không cho tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
H́nh ảnh của bệnh phong cùi cũng chính là h́nh ảnh tượng trưng cho tội lỗi. Bởi v́ tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta trở nên xấu xa và hôi thối dưới mắt Thiên Chúa. Nó cũng làm cho tâm hồn chúng ta bị băng hoại và sau cùng giết chết sự sống của Thiên Chúa, sự sống của ơn sủng trong chúng ta. Đồng thời, tội lỗi c̣n là như một chứng bệnh truyền nhiễm, do gương mù gương xấu của chúng ta mà nó sẽ lây lan sang những người chung quanh.
Thế nhưng có một điều bi đát, đó là đối với những kẻ mắc phải chứng bệnh phong cùi, th́ như tôi vừa nói, người ta thường để họ sống biệt lập tại một nơi hoang vắng, hay trong những trại riêng biệt, hầu giới hạn sự lây lan của nó.
C̣n tội lỗi th́ khác, nó đang ở giữa chúng ta, trà trộn vào trong chúng ta, thế lực và ảnh hưởng của nó mỗi ngày một bành trướng, nó tràn ngập khắp nơi, từ thôn quê cho tới tỉnh thành, không chỗ nào mà không có dấu vết của nó, để rồi con người thời nay đă đánh mất ư thức về nó. Họ coi phạm tội là một chuyện b́nh thường, như ăn một chén cơm, uống một ly nước.
Riêng với chúng ta th́ sao? Sau khi đă nhận biết sự nặng nề và xấu xa của tội lỗi là như thế, chúng ta hăy có lấy một điều dốc quyết và kiên tŕ thực hiện điều dốc quyết ấy, đó là thà chết chẳng thà phạm tội mất ḷng Chúa.
Hẳn chúng ta c̣n nhớ câu chuyện về vua thánh Louis, ngày kia ngài cùng với một số quan chức đi thăm một trại cùi. Ngài hỏi một viên đại thần. Nếu ngươi được phép chọn lựa: Một là phạm tội trọng hai là mắc chứng bệnh phong cùi th́ ngươi sẽ chọn đường nào.
Viên đại thần trả lời: kẻ hạ thần thà phạm một trăm tội trọng chứ chẳng thà mắc phải chứng bệnh ghê tởm ấy.
Thế nhưng nhà vua đă nói với ông ta: C̣n trẫm, thà rằng trẫm mắc phải chứng bệnh ghê tởm gấp trăm lần chứ chẳng thà phạm một tội trọng mất ḷng Chúa.
Cố gắng xa tránh tội đă đành, c̣n khi trót phạm tội, chúng ta phải làm ǵ? Tôi xin thưa, hăy giục ḷng thống hối ăn năn, như vua thánh Đavid ngày xưa: Lạy Chúa, xin thương xót con, v́ con đă vấp phạm đến Chúa, rồi sau đó thi hành ngay phương thế mà Chúa Giêsu đă chỉ cho người phong cùi.
Phương thế ấy như thế nào: Con hăy đi tŕnh diện cùng tư tế. Phải chăng mỗi khi chúng ta phạm tội, Chúa Giêsu cũng nhắc nhở chúng ta rằng: Con hăy đi gặp linh mục nơi ṭa giải tội.
Bởi v́ như chúng ta đă biết, bí tích Giải tội chính là bí tích của ḷng thương xót, nhờ đó mà chúng ta sẽ được Chúa tha thứ. Và ṭa giải tội chính là nơi để chúng ta gặp gỡ và làm ḥa cùng Thiên Chúa.
Có một người khô khan nguội lạnh, tới gặp một vị linh mục và nói: Thưa cha con tội lỗi nặng nề lắm, chỉ có một cách là thắt cổ chết quách đi cho rồi. Vị linh mục dẫn người đó tới chân tượng thánh giá và hỏi:
Ai chịu chết trên đó?
- Thưa, Chúa Giêsu.
Tại sao Ngài lại chịu chết?
- Thưa, để cứu chuộc nhân loại.
Vậy trong nhân loại có con hay không?
- Thưa, có.
Thế là người đó thêm niềm cậy trông, giục ḷng ăn năn, xưng thú tội lỗi và t́m lại được sự b́nh an cho tâm hồn.
Hăy xa tránh tội lỗi để tâm hồn được b́nh an, đồng thời hăy ăn năn sám hối để lấy lại được t́nh nghĩa của Chúa.
Bệnh phong cùi ngày nay không c̣n là một chứng
bệnh nan y, nếu được chữa trị theo
đúng phương pháp. Số người mắc bệnh
cùi ở Việt Nam vẫn c̣n nhiều, khoảng 20.000
người. Họ thường phải sống ở những
nơi xa xôi hẻo lánh. Đa số bệnh nhân bị tật
nguyền, không thể mưu sinh. Nói chung, họ luôn thiếu
ăn, thiếu mặc, thiếu nhà ở cũng như thiếu
t́nh thương chăm sóc.
Phần lớn trong họ chưa biết Chúa, nên trước những đau khổ thân xác và tinh thần, họ dễ rơi vào cảnh tuyệt vọng. Đă có những tấm ḷng nhân hậu, noi gương Chúa Giêsu, cúi xuống trên nỗi bất hạnh của họ. Chẳng hạn các tu sĩ nam nữ, các giáo dân thiện chí tại những trại phong cùi, rải rắc trên toàn đất nước.
Thế nhưng, trong bối cảnh của xă hội Do Thái cách đây hơn 2000 năm, th́ phong cùi quả là một chứng bệnh khủng khiếp. Họ bị đồng hóa với những kẻ bị Thiên Chúa trừng phạt. Kiếp sống của họ thật đáng thương. Họ phải mặc quần áo tả tơi, tóc tai phải bù xù, râu mép phải che lại. Họ bị xua đuổi khỏi cộng đoàn, sống tách biệt trong những nơi hoang vắng và nếu có đi tới đâu, th́ phải kêu lớn tiếng: Tôi nhơ bẩn, để người khác nghe thấy mà tránh cho xa. Người mắc bệnh phong cùi như thế bị coi như là một người đă chết ngay khi c̣n đang sống. Họ chỉ là như một thây ma biết di động mà thôi.
Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay kể lại câu chuyện một người phong cùi đến gặp Chúa Giêsu. Anh ta đă làm một điều táo bạo vượt ra ngoài luật lệ cho phép. Điều duy nhất khiến anh ta có can đảm để làm như vậy, đó là ḷng tin vào Chúa Giêsu, một người mà anh đă được nghe nói đến. Anh ta không sợ ḿnh làm cho Ngài bị nhơ bẩn, nhưng anh ta hy vọng chính Ngài sẽ làm cho anh được sạch. Ḷng tin này khiến anh quỳ gối xuống trước mặt Ngài và kêu van:
- Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi nên sạch.
Tất cả ước mơ của anh là được khỏi bệnh, trở nên lành sạch, được làm một con người b́nh thường, nối lại những liên hệ với xă hội. Anh tin là Ngài có thể làm được chuyện lớn lao đó, miễn là Ngài muốn.
Trước t́nh cảnh bi đát này Chúa Giêsu đă động ḷng thương, Ngài đă đưa tay ra đúng vào con người anh ta. Và Ngài trả lại cho anh ta toàn bộ những ǵ đă mất. Chúa Giêsu không ngại nhơ bẩn, bởi v́ Ngài đă để cho ḷng thương xót trào dâng.
Đoạn Tin Mừng trên đ̣i chúng ta phải thay đổi thái độ đối với những kẻ bất hạnh. Nếu hiểu phong cùi là chứng bệnh hiểm nghèo làm cho nên ghê tởm, th́ trong xă hội c̣n biết bao nhiêu thứ phong cùi khác nữa. Chẳng hạn những người nghiện ma túy, những người trộm cắp từng vào tù ra khám, những người mắc bệnh Siđa… Chúng ta dễ có thái độ coi thường và xa tránh. Nhiều khi họ muốn trở nên lành sạch, muốn mọi người quên đi cái dĩ văng lầm lỡ của họ và làm lại cuộc đời, nhưng chúng ta lại không tin là họ có thể thực hiện được điều ấy. Chúng ta phê phán cái bề dầy của dĩ văng, chúng ta khinh bỉ và chê trách họ.
Chúa Giêsu đă đưa tay động tới người phong cùi và chữa lành cho anh ta. Ước mong phép lạ Chúa Giêsu ngày xưa được kéo dài bằng thái độ yêu thương và chăm sóc của chúng ta.
Có một ḥn đảo nằm chơi
vơi giữa biển Thái B́nh Dương mênh mông, trên đảo
chỉ toàn là những người phong: cụt tay, đứt
chân, mắt đui, mày lở, răng rụng... Một hôm,
Đức giám mục phụ trách quần đảo này
gióng tiếng kêu gọi các linh mục ở Âu Châu hăy t́nh
nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một linh mục
trẻ, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh đă
hăng hái đáp lời, đó là cha Đa-Miêng, sau này
được tặng thêm biệt danh "Tông đồ
người phong".
Khi đặt chân đến ḥn đảo này, cha Đa-Miêng đă được tiếp đón và giới thiệu như sau: chiều hôm đó, trong ngôi nhà thờ rất đông người phong, đức giám mục đứng trên bàn thờ quay xuống giới thiệu với mọi người: "Các con thân mến, các con hằng mong ước có một linh mục đến ở cùng các con, yêu thương săn sóc các con, th́ đây cha Đa-Miêng, một linh mục người Bỉ sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết, các con có sung sướng không?" Cả nhà thờ xôn xao, th́ thầm to nhỏ. Cha Đa-Miêng đứng cạnh đức giám mục chẳng hiểu họ nói ǵ. Rồi họ từ từ bước lên cung thánh, dáng điệu chất phác đơn sơ. Cha Đa-Miêng thấy họ đến gần ḿnh th́ sởn tóc gáy và nổi da gà, trông họ như những thây ma c̣n sống, như những quái thai mất hẳn dáng người. Họ làm ǵ đây? Họ tiến đến bên cha, người th́ sờ vào mặt, người th́ sờ vào tay, người th́ sờ vào áo cha.. Cha hỏi đức giám mục: "Thưa đưc cha, họ làm ǵ vậy?" Đức cha trả lời: "Họ nói họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống ǵ với họ, trẻ trung, đẹp trai, không bệnh tật như họ, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này, họ không tin mắt ḿnh nên họ đến sờ mó vào người cha, xem cha có bị phong như họ không, và họ nói với nhau: "Không, cha đẹp quá, cha không bệnh tật ǵ cả, cha thương chúng ta quá".
Sống với những người phong ở đây được một thời gian, dần dần Cha Đa-Miêng ḥa đồng được với họ, nói tiếng của họ, cha không c̣n cảm thấy tởm gớm họ như những ngày đầu mới đến, nói đúng hơn, cha đă quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi trong họ, nên chẳng c̣n thấy ghê sợ gớm tởm nữa. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh phong, thân ḿnh lở loét, nhức nhối, mặt mày sần sùi, đen đủi, trông rất dễ sợ. Một số báo ở Bỉ đăng h́nh cha và kể lại sự hy sinh vĩ đại của cha. Thân mẫu của cha, mắt mờ không đọc được, nh́n vào bức h́nh bà cũng chẳng nhận ra nổi đứa con yêu, bà hỏi đứa cháu: "H́nh ai đây mà trông ghê sợ vậy?" cô cháu trả lời: "Một người phong bên đảo Môlôkai của cha Đa-Miêng đấy". Qua mắt được bà cố, nhưng họ lại nh́n nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ. Cha Đa-Miêng đă sống với người phong trên ḥn đảo này cho đến chết, t́nh yêu Chúa đă giúp cha hy sinh suốt đời v́ họ.
Phong, hủi hay cùi cũng là một thứ bệnh. Đă có lần nào anh chị em gặp một người phong cỡ nặng chưa? Mời anh chị em vào trại phong Di Linh, Quy Ḥa, Bến Sắn... anh chị em sẽ thấy một người phong nặng, không c̣n h́nh tượng ǵ là con người nữa, tứ chi rụng hết, mặt mũi sần sùi, thân ḿnh lở loét. Có người đến đây không chịu nổi sự dơ bẩn đă té xỉu v́ hôi thối nặng mùi. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng sợ mắc phải chứng bệnh như thế, chúng ta sẽ tránh xa và ǵn giữ vệ sinh cẩn thận kẻo mắc thứ bệnh này.
Cũng vậy, bệnh phong đối với xă hội Do Thái thời Chúa Giêsu bị kể là dơ bẩn, một loại không thánh nữa, bị cô lập riêng ra một nơi, không được ở chung với dân làng, ngay cả cha mẹ thân nhân cũng không được chứa người đó trong nhà. Một người phong thời Chúa Giêsu là một nạn nhân thật sự bị ruồng bỏ, đi đâu người đó cũng phải lắc chuông loặc kêu lên "dơ, dơ" để mọi người biết mà tránh xa... Đau khổ nhất là bị cộng đồng Do Thái giáo gạt ra ngoài như một loại dứt phép thông công, cho nên, người mắc bệnh phong hết sức đau khổ về tinh thần cũng như thể xác, về của ăn họ chỉ sống nhờ của bố thí.
Nhưng trong câu chuyện Tin Mừng kể lại, chúng ta thấy người phong này đă đi vào xóm làng, chạy theo Chúa Giêsu và xin Ngài cứu chữa. Làm như thế là người này đă vi phạm luật lệ thời đó và có thể bị ném đá chết. Nhưng niềm tin vào Chúa đă khiến anh không sợ hăi để liều ḿnh như thế. Thực vậy, anh đến với Chúa với một niềm tin tuyệt đối, anh khiêm nhường quỳ xuống van xin: "Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch". Chúng ta hăy để ư câu anh nói "Nếu Ngài muốn", anh nói như thế không phải là anh hồ nghi ǵ quyền năng của Chúa, mà ngược lại, anh hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa. Nói rơ hơn, anh biết rằng Chúa có thể và Chúa có quyền làm cho anh khỏi bệnh, nhưng điều đó c̣n tùy ư Chúa, tùy ḷng thương xót của Chúa. Đây cũng là gương mẫu nhắc nhở chúng ta mỗi khi cầu xin Chúa điều ǵ: xin vâng, xin tùy ư Chúa, xin tùy ḷng thương xót của Chúa.
Đàng khác, người Do Thái hết sức khinh bỉ những người phong, đến nỗi bất cứ ai giao tiếp cách nào với họ, như nói chuyện với họ thôi, cũng bị kể là dơ bẩn và không nên thánh được. Thế mà Chúa Giêsu đă nói chuyện và đụng chạm đến người phong này để chữa lành anh ta th́ đủ nói lên ḷng thương xót của Chúa như thế nào. Có những phép lạ Chúa chỉ phán một lời hay chỉ làm một cử chỉ nào đó, ở đây Chúa dùng cả hai: Chúa vừa nói "Tôi muốn, anh sạch đi" vừa cầm tay bệnh nhân để nói lên t́nh thương của Ngài đối với anh ta.
Đây cũng là điều nhắc nhở chúng ta: những người phong là những người đáng thương, chúng ta đừng bao giờ sợ hăi mà xa tránh, nhưng hăy thật ḷng thăm hỏi và cố gắng chia sẻ, giúp đỡ tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của chúng ta.
Chủ đề: "Dù t́nh trạng
bi đát đến mức nào, Chúa Giêsu vẫn có thể
hoán chuyển thành tốt hơn, miễn là ta biết tin vào
Ngài"
Năm 1981, nhạc sĩ vĩ cầm người anh, Peter Cropper được mời đến Phần Lan tŕnh diễn một buổi hoà nhạc đặc biệt. V́ ḷng ngưỡng mộ biệt tài của Peter, Viện Hàn Lâm âm nhạc hoàng gia đă biếu ông chiếc vĩ cầm vô giá tên là Stradivarius được chế tạo cách đó 285 năm, để ông sử dụng trong các buổi hoà nhạc. Chiếc nhạc cụ quí hiếm này mang tên nhà chế tạo vĩ cầm người Ư Antonio Stradivari. Nó được cấu tạo bằng 80 phiến gỗ đặc biệt với 30 lớp sơn bóng cũng đặc biệt. Âm thanh phát ra hết sức rơ ràng, du dương. Nhưng khi Peter Cropper đến Phần Lan, một cơn ác mộng khinh khiếp không thể tin được đă xảy ra. V́ khi bước lên sân khấu tŕnh diễn, Peter bỗng trợt chân ngă xuống, làm chiếc vĩ cầm bị vỡ tan thành từng mảnh! thế là Peter trở về Luân Đôn tâm trí khủng hoảng cực độ. Một người chuyên sửa đàn dày dạn Kinh nghiệm tên là Charler Beare t́nh nguyện cố gắng hết sức phục hồi chiếc đàn cho Peter. Charler miệt mài làm việc ngày đêm với chiếc đàn vỡ. Thế rồi cuối cùng ông đă lắp ráp được toàn bộ các mảnh vỡ lại để làm thành chiếc đàn nguyên vẹn như trước. Và giây phút thử nghiệm hồi hộp đă đến, mọi người đều nín thở chờ xem âm thanh tiếng đàn phát ra. Beare trao chiếc vĩ cầm cho Peter Người nhạc sĩ vĩ cầm vô cùng hồi hộp cầm chiếc đàn lên bắt đầu chơi nhạc… Tất cả mọi người có mặt ở đấy không dám tin vào tai ḿnh, bởi v́ chẳng những âm thanh của chiếc vĩ cầm vẫn tuyệt hảo như xưa mà xem ra hiện giờ c̣n xuất sắc hơn trước khi nó bị vỡ nữa!
Những tháng sau đó, Cropper đă mang chiếc vĩ cầm đi tŕnh diễn ṿng quanh thế giới. Và hằng đêm, chiếc vĩ cầm mà mọi người nghĩ rằng sẽ vĩnh viễn bị hư phế đó đă mang lại cho Crroper biết bao lời hoan hô nồng nhiệt từ đám thính giả.
Câu chuyện về chiếc vĩ cầm trên là một hỉnh ảnh tuyệt hảo diễn ư những ǵ đă xảy ra cho người bị phong cùi trong bài Phúc Âm hôm nay. Thời xưa, không h́nh ảnh nào ghê tởm bằng h́nh ảnh người bệnh cùi. Ai ai cũng sợ bị anh ta lây bệnh. Đời sống của người bệnh cùi chẳng khác ǵ cuộc sống địa ngục. Người khác lấy làm gớm ghiếc anh ta đă dành, mà chính anh ta cũng kinh tởm chính ḿnh nữa. Thánh vịnh 31 đă mô tả t́nh trạng thê thảm của anh như sau; "Những kẻ tôi quen biết đều sợ hăi tôi, trông thấy tôi ngoài đường là họ lánh xa… Tôi chả khác nào đồ vật phế thải" (Tv 31: 11-12). Thế mà đối với người phung cùi bị đát như vậy, Chúa Giêsu vẫn giơ đôi tay tŕu mến của Ngài chạm vào và chữa cho anh ta lành bệnh.
Câu chuyện người phung cùi và câu chuyện chiếc vĩ cầm chứa đựng một sứ điệp quan trọng đối với tất cả chúng ta. Chúng cho ta thấy những điều vẫn thường xuyên xảy đến trong cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn một biến cố cực kỳ bi đát nào đó như; một người thân ḿnh qua đời, bạn bè phản bội ḿnh, tại nạn xẩy tới làm con ḿnh tàn tật, cha ḿnh mất sở làm, mẹ ḿnh nghiện rượu… khi sự bất hạnh ấy chụp lên đầu chúng ta, ḷng chúng ta đầy đớn đau, lo lắng, giống như người bệnh cùi lúc bị vướng bệnh, chúng ta cảm thấy cơi ḷng tan nát, và giống như Peter khi đánh vỡ chiếc vĩ cầm, chúng ta cũng bị rơi vào tâm trạng hết sức khủng hoảng.
Vậy hai câu chuyện trên dạy chúng ta điều ǵ khi lâm phải những hoàn cảnh bi đát tương tự như thế? Chúng cho ta thấy không có hoàn cảnh bi đát nào khủng khiếp đến mức ta không thể vượt qua được. Không một tai hoạ nào tàn khốc đến mức không thể phục hồi được. Dầu cho rủi ro tàn phá đến mức nào đi nữa, chúng ta vẫn có thể nhặt lên những mănh vụn và bắt đầu khiến tạo lại thành một h́nh dạng mới. Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ rằng đời ḿnh kể như vĩnh viễn tàn lụi, hư hỏng, chúng ta chỉ cần quay nh́n về Chúa Giêsu, Ngài có thể chữa lành cuộc đời tan vỡ chúng ta, giống như người sửa đàn tài hoa đă sửa chữa chiếc vĩ cầm bể nát nọ. Và Chúa Giêsu c̣n làm được hơn thế. Ngài có thể biến một cuộc đời tan nát thành tốt hơn, đẹp hơn trước đó nữa.
Cách đây nhiều năm một vụ nổ đă làm một chú bé bảy tuổi bị phỏng nặng ở chân đến nỗi các bác sĩ nghĩ rằng cần phải cưa chân đi. Một người bạn nói với mẹ cậu bé: "Chị nên chuẩn bị đón nhận điều này, thằng Glenn của chị sắp sửa thành kẻ tàn phế suốt đời đấy!" thế mà hai năm sau, cậu bé đă rời bỏ cặp nạng, chẳng những Glenn đi bộ được, cậu ta c̣n chạy được nữa, dù chạy không nhanh lắm, những dầu sao cậu ta vẫn chạy được, cuối cùng, Glenn vào được đại học. Hoạt động ngoại khóa của cậu là môn chạy đua, giờ đây cậu chạy không phải để chứng tỏ cho thấy thiên hạ đă lầm, mà chẳng là v́ cậu có năng khiếu về môn này. Các kỷ lục liên đại học chẳng bao lâu bị đôi chân thoăn thoắt của cậu phá vỡ. Thế rồi kỳ Đại hội Ôlympic Berlin đă đến. Glenn chẳng những được đánh giá là vận động viên xuất sắc môn chạy 1500 mét mà cậu c̣n phá kỷ lục Olympic về môn này. Năm sau, Glenn Cunningham lại phá vỡ kỷ lục môn chạy dưới ṿm có mái che.
Cậu bé mà người ta từng cho là sẽ trở thành một phế nhân, nay đă trở thành vận động viên chạy chay nhanh nhất thế giới. Cậu bé mà cuộc đời tan vỡ v́ vụ nổ kinh khiếp đă trở nên mạnh mẽ hơn cả khi biến cố bi đát ấy chưa xảy ra.
Thánh Phaolô tóm tắt sứ điệp chứa đựng trong các bài đọc hôm nay qua những lời thơ gởi tín hữu Corintô như sau: "Chúng tôi, thường bị âu sầu nhưng không bị đè bẹp, thỉnh thoảng bị rơi vào ngờ vực nhưng không bao giờ tuyệt vọng. Và dầu nhiều lần bị ngược đăi, nhưng chúng tôi vẫn không bị tiêu diệt… v́ lư do này, chúng tôi chẳng bao giờ ngă ḷng. " (2 Cr 4: 8-9, 16)
Và trong thư gởi tín hữu Roma thánh Phaolô có nói; "Chúng tôi biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự trở nên tốt đẹp cho những kẻ yêu mến Ngài" (Rm 8:28)
Đây chính là "Tin Mừng" ẩn chứa trong các bài đọc Thánh Kinh hôm nay. Những bài đọc này dạy ta biết rằng dù ta có gặp tai nạn thảm khốc đến mức nào, chúng ta cũng vẫn có thể được chữa lành- giống như trường hợp chiếc vĩ cầm quí giá nọ. Những bài đọc dạy ta rằng bất cứ bệnh tật nào dù thê lương đến đâu xảy đến cho chúng ta như bệnh cùi chẳng hạn, chúng ta vẫn có thể được chữa lành dù sự kiện bi đát nào ụp xuống trên ta giống trường hợp xảy đến cho Glenn, chúng ta cũng vẫn có thể hoàn toàn phục hồi như cậu ta. Những bài đọc c̣n dạy chúng ta thêm điều này. Dù Chúa Giêsu có thể không chọn phương cách phục hồi toàn vẹn đời sống cho chúng ta, Ngài vẫn có thể dùng nghịch cảnh để biến đổi chúng ta trở nên tốt đẹp và có giá trị hơn trước.
Chúng ta hăy kết thúc bằng lời cầu nguyện được t́m thấy trong túi một chiến binh tử trận.
"Tôi đă cầu xin được khoẻ mạnh để làm nên những vịêc vĩ đại, thế mà Ngài lại bắt tôi yếu đuối để tôi có thể làm những điều tốt đẹp hơn. Tôi cầu xin được giàu có để sống hạnh phúc, thế mà ngài lại để tôi nghèo khổ hầu tôi được khôn ngoan hơn… Tôi cầu xin nắm được quyền cao chức trọng để được mọi người tán dương, thế mà tôi vẫn phải chịu cảnh thấp hèn để tôi cảm thấy cần đến Chúa…
Tôi chẳng nhận được điều ǵ tôi cầu xin, nhưng tôi lại nhận được mọi điều tôi hy vọng. Mọi lời cầu xin không thốt ra lời lại được đáp trả hầu như ngoài dự tính của tôi. Và như thế tôi được liệt vào số những người được Chúa chúc phúc nhiều nhất"…
Qua bài viết: “Nhớ Hàn Mặc Tử”, của
ông Nguyễn văn Xê, người bạn đồng bệnh
sống với anh Nguyễn Trọng Trí, tức nhà thơ
Hàn Mặc Tử ở Quy Ḥa vào những giây phút cuối
cùng, đăng trên cuốn “Hằn Mặc Tử, Thơ và
Đời”, do nhà xuất bản Văn Học, tôi mới
giải quyết được nỗi thắc mắc. Hàn
Mặc Tử bị bệnh phong cùi hành hạ, thân xác vô
cùng đau đớn, bị người đời xa
tránh, ghê tởm, vậy mà sao thơ của anh lại thanh
tao, siêu thoát “bay cho đến cơi thiên đàng”? Cả ư, lẫn
lời, cùng với tâm hồn của nhà thơ đă thoát ra
khỏi cơn bệnh khổ đau bay lên thật cao.
Câu trả lời đă nằm trong câu thơ: “Trí miêu duệ của muôn v́ rất thánh”, trong bài “Thánh Nữ Đồng Trinh Maria”. “Trí” là Nguyễn Trọng Trí, tên anh. “Miêu duệ” nghĩa là con cháu. Ư nói Hàn Mặc Tử tự nhận ḿnh là con cháu của các thánh. Đúng như vậy! V́ trái tim của anh tràn ngập t́nh yêu thương. Nguồn suối yêu thương tuôn đổ xuống từ người mẹ, người chị, và Mẹ Juetta. Tất cả thu về một nguồn mạch chính, t́nh yêu Thiên Chúa qua Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, anh tự hào ḿnh là con cháu của các thánh, của t́nh yêu!
Trần thị Huyền Trang trong bài “Những Người Thân Yêu, Những Ṿng Tay Nối Kết” đă viết như sau về người mẹ của Hàn Mặc Tử, bà góa phụ Nguyễn thị Duy: “Căn bệnh nan y của nhà thơ là gánh nặng trên đôi vai già nua của bà. Nhưng người mẹ, trước sau như một, tận tụy thương con, nghe bất cứ nơi nào có thầy thuốc giỏi là không nề xa xôi khổ cực; lẽo đẽo theo con đến tận nơi chữa trị. Bà cố dành cho Hàn mọi nguồn an ủi tinh thần, chăm chút từng sở thích của đứa con bạc phận. Bà tự tay làm cho Hàn món cá bống kho tiêu rim mặn… Khi Hàn quyết định vào bệnh viện phong Quy Ḥa… bà khóc lóc sợ xa đứa con yêu quư”.
Theo tâm lư, trong những lúc lâm nguy người ta thường gọi đến mẹ như một trẻ thơ xin cầu cứu. Trường hợp của Hàn Mặc Tử cũng như vậy: “Mẹ ơi, con sắp chết nay mai. Con không sợ chết mẹ ạ. Nhưng nghĩ rằng con sẽ phải rời bỏ mẹ, con đau ḷng quá”.
Về chị Nguyễn thị Như Lễ, chị của Hàn Mặc Tử “là người gần gũi Hàn Mặc Tử nhất về tính t́nh và sở thích. Nếu như mẹ được Tử nh́n qua h́nh ảnh Đức Bà Maria ở năng lực che chở và đức hy sinh th́ chị Lễ… là hiện thân của Đức Bà ở vẻ đẹp sáng trong uyển chuyển…” “Với t́nh thương rộng lớn và niềm thông cảm sâu sắc, chị đă cố gắng cho Hàn cảm giác dễ chịu và tự do tuyệt đối”. “Chị đă có mặt trong những trang thơ… lặng lẽ và dịu dàng như một vầng trăng, tỏa đầy những luồng sáng thanh khiết và ấm áp”.
Và Mẹ Juetta người Pháp, phụ trách nhà thương Nam bệnh phong cùi ở Quy Ḥa, đă săn sóc Hàn Mặc Tử ngay từ khi mới nhập bệnh viện, được ông Xê diễn tả như sau:
“… người bệnh nhân đó như bị tê hai chân nên gắng gượng lắm mới đứng lên được, đầu gối run run bước từng bước một, tay bám vào xe cho khỏi ngă. Mẹ Juetta: “Mau đưa tay cho mẹ đỡ xuống con”. Mẹ nói và bước tới xốc đỡ người bệnh xuống đất một cách nhẹ nhàng. Theo bàn tay d́u đỡ của mẹ Juetta, người bệnh cố đi như lết, đầu cúi xuống… đến giường số 3, mẹ dừng lại: “Trí, đây là chỗ của con”. … Mẹ Juetta bưng đến một tách lớn đầy sữa nóng, và múc từng muỗng cho Trí uống. Trí e ngại nói: “Xin mẹ để con tự bưng uống được”; mẹ lắc đầu nói: “Không được, để mẹ đút cho con uống v́ sữa nóng sẽ làm con phỏng tay”. Rồi mẹ sung sướng mỉm cười thấy Trí cố gắng uống cạn ly sữa. Mẹ nói: “Con nằm nghỉ, chút nữa ăn cơm” và Trí lễ phép: “Con cám ơn mẹ”.
Những nguồn mạch yêu thương này đă tạo nên nghị lực mạnh mẽ cho Hàn Mặc Tử tự phấn đấu trong đau khổ và đă chắp đôi cánh cho thơ của anh bay lên trời cao, như chính Hàn Mặc Tử đă tâm sự với anh Xê:
“Trí và tôi thường nói chuyện với nhau và có lần Trí thổ lộ tâm tư đôi chút: Tôi đến Quy Ḥa này là nơi có băi biển, rừng dừa xanh, núi non hùng vĩ, cù lao xanh huyền ảo, đặc biệt là t́nh người, nên tôi được hưởng cái b́nh an của nội tâm, cái thanh tao của nguồn vui tưởng như đă chết trong khi ở thôn Tấn đầy đau khổ, nghèo túng, cô đơn, không một ai đến an ủi, săn sóc, dù là người thân quyến”.
T́nh yêu cứu chuộc con người. Sự săn sóc đặc biệt của mẹ Juetta đă giải thoát Hàn Mặc Tử, đă giúp cho Hàn Mặc Tử sống giữa sự hôi thối của bệnh phong cùi lại cảm thấy “Thơm tho bay cho đến cơi thiên đàng”. Sống giữa khổ đau lại cảm nghiệm “Hương xông lên lời ca ngợi sum ḥa”. Chỉ có t́nh yêu mới giúp Hàn Mặc Tử chắp cánh đại bàng bay lên khung trời cao rộng từ vực thẳm tăm tối của đau khổ và tuyệt vọng. Qua t́nh yêu đích thực phản ảnh tấm ḷng của Đức Mẹ Maria đối với nhân loại, mẹ Juetta đă chữa lành tâm hồn của Hàn Mặc Tử:
“Lạy bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn,
Giàu nhân đức, giàu muôn lộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ pḥ nguy
Cơn lâm nguy vừa trải qua dưới thế”.
Mặc dù đau đớn đến run rẩy nhưng ḷng vẫn tràn ngập mến thương:
“Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng ḷng vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến”.
Và sau cùng đă giúp anh “bay cho đến cơi thiên đàng” như ông Xê đă chứng kiến tận mắt: “C̣n nói đến cử chỉ hành động bộc lộ ra ngoài mà tôi và mọi người thấy rơ ràng nhất là Trí trong những ngày giờ biết ḿnh sắp chết th́ rất sốt sắng lo về phần hồn của tôn giáo, nên Trí rất thích nói về Đức Mẹ Maria đầy ơn phước”.
Hôm nay, có hai bài đọc nói về bệnh cùi. Bài đọc thứ nhất trích từ sách Lêvi nói rơ người bị bệnh cùi phải “ở riêng một ḿnh ngoài trại”. C̣n bài Phúc âm diễn tả việc Chúa Giêsu giơ tay đặt lên người cùi, tiếp xúc với anh và anh được khỏi bệnh. Trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, bệnh cùi là biểu tượng của tội lỗi. Người Do Thái coi người bị bệnh cùi đă bị phạt bởi Thiên Chúa do tội lỗi của họ. Và sự lây lan của nó giống như sự lan truyền của tội lỗi. Do đó tất cả mọi người bị cấm đụng chạm đến họ. Họ bị tách biệt, cô lập ra khỏi gia đ́nh, cộng đoàn và xă hội. Nhưng Chúa Giêsu, với t́nh yêu vô biên của Ngài: “Động ḷng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy”. Ngài phá tan cái hàng rào ngăn cách, cái thành kiến sai lệch của cả ngàn năm. Nhờ đó tâm hồn anh ta đă được chữa lành trước khi bệnh phong cùi thể xác thực sự biến mất.
Quả thực, việc đặt tay hay đụng chạm đến người bệnh cùi phải là một việc khởi sự từ trong tâm hồn, từ con tim phát xuất yêu thương. Ngoài t́nh yêu ra không có một động lực nào có thể thúc đẩy chúng ta đến gần hay đụng chạm, chưa nói đến việc săn sóc. Một t́nh yêu lớn lao như Chúa Giêsu đă làm trước tiên, rồi mẹ Juetta ở trại phong Quy Ḥa, và các sơ săn sóc các bệnh nhân bị cùi, bệnh AIDS… đă làm theo: “Không ai có t́nh thương lớn hơn t́nh thương của người hy sinh mạng sống ḿnh cho bạn hữu:. (Jn 15, 13).
Chỉ nhờ t́nh yêu và ân sủng Thiên Chúa ban, con người mới có thể hành động được những việc phi thường như vậy thôi!
Truyện kể về việc Mẹ Têrêsa Calcutta đang săn sóc một người bệnh đầy thương tích nằm bên vệ đường. Anh hôi thối dơ dáy và bẩn thỉu. Khi mẹ đang lau rửa các vết thương cho anh, có một người khách qua đường trông thấy, cúi xuống nói với Mẹ Têrêsa như sau: “Trả cho tôi một triệu đôla tôi cũng không thể làm được việc này”. Mẹ Têrêsa bèn ngẩng đầu lên trả lời: “Tôi cũng vậy!”
Tiền bạc, của cải, vật chất hay bất cứ sự ǵ trên thế gian này cũng không thể làm cho người ta có thể hy sinh quên ḿnh mà săn sóc cho các bệnh nhân bị phong cùi lở loét hôi thối được. Nhưng với t́nh yêu và ân sủng của Thiên Chúa th́ tất cả đều có thể làm được. Quyền năng của Thiên Chúa làm được mọi sự.
Đức Giám mục Fulton Sheen, nhà giảng thuyết trứ danh trên các show TV mỗi đêm thứ tư trong những năm 1955 – 1960. Một đêm ngài kể cho khán giả nghe về chuyến viếng thăm một trại cùi bên Phi Châu. Để làm quà ngài mang theo rất nhiều thánh giá bằng bạc có thể phát cho khoảng 500 bệnh nhân cùi trong trại. Bệnh nhân đầu tiên ngài gặp chỉ c̣n lại một cánh tay trái. Tay phải và bàn tay được băng bó với những vết thương nhầy nhụa. Đức cha mới cầm một tượng thánh giá, giữ nó cách bàn tay của người cùi chừng 10 cm và thả nó xuống ḷng bàn tay của bệnh nhân. Trong một chớp nhoáng, ngài bị đánh động bởi chính việc ngài làm. Ngài nói:
“Th́nh ĺnh, tôi nhận ra có 501 người cùi trong trại. Và người cùi ghẻ lở nhất là tôi. Tôi đă tặng họ cây thánh giá là biểu tượng t́nh yêu tuyệt đối của Thiên Chúa cho tất cả chúng ta. Nhưng rồi, tôi đă lấy đi mất cái t́nh yêu tuyệt đối đó và nhắm mắt lại trước cái ư nghĩa của nó đối với tôi. Tôi không dám nh́n thẳng vào cây thánh giá bé nhỏ. Và sau cùng tôi đă biết tôi phải làm ǵ. Tôi ấn bàn tay tôi vào bàn tay của những người cùi với một biểu tượng của t́nh yêu giữa chúng ta. Và rồi tôi đă làm y như thế cho 499 người bệnh cùi c̣n lại”.
Bao lâu chúng ta c̣n cảm thấy ghê tởm, sợ sệt và e dè là c̣n có ngăn cách. C̣n ngăn cách là chưa có ân sủng và t́nh yêu đích thực. Mà không có t́nh yêu đích thực th́ không thể nào làm cho một bệnh nhân phong cùi cảm thấy: “Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng” được! Huống chi là giúp cho họ cảm nghiệm: “Thơm tho bay cho đến cơi thiên đàng”!
Chắc hẳn rằng bệnh phong hủi
là một căn bệnh khủng khiếp, nhưng không khủng
khiếp bằng cảm giác không được yêu
thương, không ai mong muốn ḿnh bị ruồng bỏ.
Một trong những điều tệ hại nhất có thể
xảy ra cho một con người, đó là bị xua
đuổi. Sự xua đuổi gây tổn thương
cho bất cứ cảm xúc hoặc tâm trạng nào khác.
Điều này làm tổn hại đến giá trị bản
thân, khiến cho người ta cảm thấy ḿnh vô giá trị.
Sự xua đuổi c̣n làm cho người ta muốn co rút
lại hoặc công khai nổi loạn. Trong một bộ lạc
ở Châu Phi, có một h́nh phạt chủ yếu là tẩy
chay.
Sự xua đuổi gây tác hại đối với trẻ con, người lớn tuổi, người tật nguyền… Đối với một đứa trẻ, t́nh trạng bị cha mẹ bỏ rơi tương đương với cái chết. Người lớn tuổi sợ hăi bị bỏ rơi, c̣n hơn là tất cả những bệnh tật của họ. Những vết thương nặng nề nhất gây ra cho người bị tật nguyền, không phải là do những hạn chế của họ về mặt thể lư hoặc tâm lư, nhưng là do t́nh trạng bị bỏ rơi mà họ đă từng trải qua. Những người làm công việc sáng tạo (các nhà văn, nghệ sĩ v.v…) đều là những người nhạy cảm, dễ cảm thấy đau khổ, bất chấp những thành công mà họ đă đạt được. về một phương diện nào đó, mỗi người chúng ta đều đă từng cảm thấy nỗi đau bị khước từ.
Có những cách để tự cô lập ḿnh khỏi t́nh trạng bị khước từ – phiêu lưu đôi chút, không muốn (không cần) ǵ cả, tránh né các mối quan hệ. Dường như tốt hơn là nên xây dựng những bức tường, và tránh né các mối quan hệ, hơn là liều ḿnh chịu đau khổ v́ bị khước từ. Nhưng điều này cũng giống như việc cưa chân đi, để khỏi cần phải mang giày.
Người đàn ông tiến lại gần Đức Giêsu là một người đă bị ruồng bỏ. V́ là một người phong hủi, nên anh ta bị bắt buộc phải sống bên ngoài cộng đồng. Thậm chí người ta c̣n không được đụng chạm vào anh ta. Vào thời kỳ đó, bệnh tật bị coi như một sự trừng phạt v́ tội lỗi. Do đó, người ta coi người phong hủi cũng bị cả Thiên Chúa ruồng bỏ. Nỗi đau khổ tệ hại nhất của người phong hủi không phải là căn bệnh phong hủi, nhưng chính là nỗi đau bị tất cả mọi người ruồng bỏ.
Khi chúng ta khước từ người nào, là chúng ta đang thực sự cư xử với họ giống như những “người phong hủi”, mặc dù chúng ta không ư thức về điều đó. Chúng ta có thể khước từ một người, theo những cách thế nhỏ bé nhưng tinh tế – bằng một giọng nói hoặc thậ chí chỉ bằng một cái nh́n của chúng ta. Nhưng những chuyện khó chịu nhỏ nhặt do bị khước từ, lại có thể tích lũy thành những hậu quả trầm trọng lâu dài.
Điều thú vị không phải là việc Đức Kitô chữa lành người phong hủi, nhưng là cách Người chữa lành cho anh ta. V́ bị tất cả mọi người loại trừ và ruồng bỏ, nên những kẻ phong hủi bắt buộc phải rung chuông báo hiệu mọi người, mỗi khi người đó ra đường; không một ai muốn đến gần họ, v́ sợ bị lây nhiễm, và bị qui cho là không tinh sạch.
Nhưng Đức Giêsu lại bỏ qua tất cả điều này. Người đă động ḷng thương, khi nh́n thấy hoàn cảnh khó khăn của người phong hủi. Đức Giêsu cho phép người đó đến gần Người. Thật ra Người đă làm một điều mà không ai ngờ: Người tiến lại gần và đụng chạm vào anh ta. Bằng cách đó, Người đem đến cho anh một dấu hiệu đón tiếp, và chấn chỉnh nơi anh ta ư tưởng rằng ḿnh là người dơ bẩn, không xứng đáng, và không là ǵ cả, mà chỉ là một hạng người thừa. Trước khi chữa lành cho thân xác tan nát của anh, Người đă chữa lành sự nhận thức đầy mặc cảm nơi anh.
Đức Giêsu chấp nhận người phong hủi đúng theo con người của anh. Sự chấp nhận là một câu trả lời cho sự khước từ. Đây là một trong những điều thân ái nhất có thể xảy ra cho chúng ta. Khi chấp nhận, chúng ta có cảm giác rằng con người ḿnh có giá trị.
Mỗi người chúng ta đều khát khao được chấp nhận con người của ḿnh. Chính sự quí mến và chấp nhận của người khác, làm cho chúng ta được là con người duy nhất theo đúng bản chất của ḿnh. Khi chúng ta cho rằng ḿnh làm việc chỉ v́ công việc, rằng người khác cũng có thể làm cùng một công việc đó, thậm chí c̣n tốt đẹp hơn chúng ta, th́ chúng ta không phải là con người duy nhất. Nhưng khi chúng ta chấp nhận con người của ḿnh, th́ chúng ta có khả năng nhận ra được đầy đủ tiềm năng nơi bản thân ḿnh.
Đây là cách Đức Giêsu chấp nhận người phong hủi, và chấp nhận chúng ta. Và đến lượt ḿnh, đây cũng là cách thế mà chúng ta phải học hỏi, để biết chấp nhận người khác, và tiếp cận với những người đang phải chịu đựng nỗi đau khổ t́nh trạng bị khước từ. Đến lượt ḿnh, chúng ta phải có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang lại niềm say mê vui sống nơi người khác, và rồi từ đó, chúng ta phản ánh được một cách mờ nhạt về ḷng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến.
Chúng ta biết câu chuyện nàng công chúa lọ lem.
Một cô gái hiền từ xinh đẹp, siêng năng cần mẫn trong công việc, nhưng lại phải sống trong một hoàn cảnh thật éo le. Những người chung quanh không thông cảm cũng không nh́n thấy những cực khổ mà nàng phải chịu, lại c̣n t́m cách làm cho nàng phải vất vả thêm.
Có dịp lễ hội nàng ước mong đi tham dự, nhưng khó quá. Nàng không biết làm sao cho công việc được kết thúc sớm, cũng không biết làm sao có bộ áo đẹp để dự lễ hội như những thiếu nữ cùng trang lứa khác. Điều nàng muốn đă được thực hiện; công việc được kết thúc và áo đẹp cũng được mang đến cho nàng. Nhưng dự lễ hội nàng phải lo về sớm trước giờ quy định. Trong lúc vội vàng trở về, nàng đánh rơi chiếc giầy của ḿnh.
Ở hiền gặp lành, điều nàng mong muốn thoát khỏi cảnh cơ cực đă được thực hiện. Vị hoàng tử đă cho nàng thoát cảnh lọ lem, cho nàng một địa vị mới. Nàng đă hoàn toàn thay da đỗi thịt. Từ nay nàng không c̣n phải cực khổ, không c̣n phải lam lủ, nàng đă được hoà nhập với mọi người, được mọi người biết đến và yêu thương. Nàng đă cố gắng và được giúp đở để nàng đạt được những ǵ ḿnh mong muốn.
Nếu Ngài muốn, Ngài cho tôi nên sạch.
Lời van xin thống thiết nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào Đấng mà anh ta van xin. Người cùi thốt lên được lời van xin nầy v́ anh ta nhận ra được t́nh trạng hiện tại của ḿnh, anh ta cảm nhận được tất cả nỗi thống khổ mà ḿnh đang mang. Anh ta mong muốn thoát khỏi nó: anh muốn thoát khỏi những đau đớn của thể xác lẫn tinh thần, anh muốn thoát khỏi nỗi cô đơn để có thể hoà nhập được với cộng đoàn. Anh càng mong muốn hơn cho ḿnh được trở nên tinh sạch như mọi người, bản thân anh cũng không chấp nhận được t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh. Ước muốn và hành động để thực hiện ước muốn. Anh vượt qua mọi trở ngại và đến với Chúa Giêsu, anh vượt trở ngại của đám đông, trở ngại của căn bệnh, trở ngại của sự e dè trước những luật lệ của xă hội.
Chúa Giêsu nh́n thấy anh cùng với nỗi niềm ước mơ chân thành. Ngài ban cho anh những ǵ cần thiết để anh được tinh sạch, trở về cuộc sống đời thường. "Ta muốn, anh hăy trở nên sạch".
Thiên Chúa cũng muốn cho hết mọi người như thế. Ngài cũng nói với mỗi người chúng ta như thế: "Ta muốn, con hăy trở nên sạch".
Nhưng những ǵ Thiên Chúa muốn, có phải là những ǵ mà mỗi người đang muốn? Hay những ǵ Ngài muốn, mà đành phải chờ đợi v́ không thấy con người đến với Ngài để Ngài thực hiện ư muốn.
Mỗi người trong chúng ta, để một chút thinh lặng, nh́n vào t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh. Mỗi người đang mang một căn bệnh của thời đại, căn bệnh truyền nhiễm mà không ai có thể đến gần được, căn bệnh làm cho con người của ḿnh chết dần chết ṃn theo năm tháng, căn bệnh làm cho chúng ta không thể hoà nhập được với mọi người. Cũng chính căn bệnh đó làm cho con người trở nên cô đơn tuyệt vọng. Nhưng chúng ta có nh́n thấy, có nhận ra t́nh trạng hiện tại của ḿnh không? Chúng ta có muốn thoát khỏi nó để t́m mọi phương cách, cố gắng như nàng công chúa lọ lem. Nếu chúng ta biết cố gắng, muốn thoát khỏi những đau khổ của hiện tại mà biết t́m đến với Chúa, cầu xin và vâng thheo thánh ư Chúa. Nếu mỗi người biết thực hiện ư muốn ngay lành của ḿnh, mà đến trước mặt Chúa với ḷng chân thành, th́ t́nh trạng hiện tại của chúng ta có lẽ khá hơn bây giờ nhiều lắm.
Mỗi người đang bằng ḷng với những ǵ của hiện tại và không muốn bỏ đi những ǵ ḿnh đang có. Chúng ta không muốn cho ḿnh sạch hơn, mới hơn, cũng không muốn đến với Chúa. C̣n việc hoà nhập với mọi người, không cần thiết, v́ bản thân của ḿnh tự rời xa mọi người, để không c̣n phải nghe những lời nói mà ḿnh không thích. Chúng ta cũng không muốn nghe lời nói của Chúa Giêsu: "Ta muốn con hăy trở nên sạch". Nếu như thế th́ làm sao Thiên Chúa có thể làm ǵ được cho chúng ta.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết nhận ra t́nh trạng hiện tại của chính ḿnh, biết năng đến với Chúa để Ngài làm cho chúng ta được trở nên sạch.
Câu hỏi gợi ư:
1. So với những người Do Thái thường t́nh, cách đối xử của Đức Giêsu đối với những người cùi hủi có ǵ khác lạ? Ta có thể rút ra bài học ǵ về cách xử sự với những người xấu số, bị người đời khinh ghét, ghê tởm?
2. Đức Giêsu có phân biệt đối xử dựa trên giàu nghèo, sang hèn không? Sự phân biệt đối xử như thế chứng tỏ một t́nh trạng tâm linh thế nào?
3. Tại sao Đức Giêsu lại yêu cầu người cùi được Ngài chữa lành đừng nói ǵ về việc Ngài đă làm cho anh ta?
4. Làm được một việc lành mà lại muốn khoe cho người khác biết th́ ta được lợi ǵ về mặt tâm linh? Thiên Chúa đánh giá việc làm của con người dựa trên cái ǵ?
Suy tư gợi ư:
3. Thái độ của Đức Giêsu đối với những người bệnh cùi: yêu thương và tôn trọng người xấu số
Bệnh cùi là một bệnh rất dễ lây truyền, mà ở vào thời Đức Giêsu, lại là một bệnh nan y không có thuốc chữa. Nếu không có biện pháp cách ly những người bệnh cùi khỏi những người không bệnh, th́ thật là nguy hiểm cho xă hội. V́ thế, luật Môsê (x. Lv 13,1-14,57) chủ trương buộc những người lănh đạo trong dân phải cô lập họ ở một nơi nhất định, thường là hẻo lánh, đồng thời tuyên bố những người nhiễm bệnh này là người ô uế, để mọi người tránh xa họ. Ai tiếp xúc với họ th́ cũng trở thành ô uế. Nhưng người cùi nhiều khi lại không chịu ở nơi qui định cho họ, mà lại hay đi lang thang để xin ăn, hoặc t́m cách gặp thân nhân của ḿnh. V́ thế, để buộc họ phải tránh xa ḿnh, một số dân chúng đă ném đá họ khi gặp họ trên đường đi. Do đó, người bị bệnh cùi phải sống một cuộc sống hết sức cô đơn, khốn khổ, thiếu thốn, và đầy mặc cảm v́ bị mọi người ghê tởm, xa lánh.
Nhưng theo Đức Giêsu, dù thân h́nh họ xấu xa gớm ghiếc, họ vẫn là con cái Thiên Chúa, là con cháu của Áp-ra-ham, là đồng bào ruột thịt, nên họ vẫn là anh chị em với ḿnh. V́ thế, ḿnh cần phải yêu thương họ, phải đối xử với họ bằng t́nh thương. Vả lại, không v́ h́nh thể gớm ghiếc bên ngoài mà giá trị con người của họ bị suy giảm trước mặt Thiên Chúa. Đối với Đức Giêsu, người biết nh́n vào chiều sâu của tâm hồn con người, th́ họ không đáng gớm ghiếc và xa lánh cho bằng những người cùi hủi về mặt tâm linh. Cùi hủi tâm linh là t́nh trạng của những con người sống không biết đến t́nh nghĩa, sống ích kỷ, chỉ nghĩ tới hạnh phúc hay đau khổ của một ḿnh ḿnh hay của gia đ́nh ḿnh, không hề nghĩ đến hạnh phúc hay đau khổ của người khác, hay của những gia đ́nh khác. Họ sẵn sàng có những hành động bỉ ổi để đè nén hay áp chế người khác, và cách hành động của họ thường là «ném đá dấu tay», «khẩu Phật tâm xà». Càng là người trí thức, càng có địa vị cao trong tôn giáo và xă hội, sự cùi hủi này càng được ngụy trang một cách tinh vi, khéo léo bằng những lời nói, hành động vị tha, bằng vẻ đạo đức bên ngoài (x. Mt 23). Đức Giêsu càng tỏ ra an ủi vỗ những người cùi hủi thể chất bao nhiêu, Ngài càng không tiếc lời khiển trách những người cùi hủi tâm linh bấy nhiêu, thậm chí đến «cạn tàu ráo máng» (x. Mt 23).
Khi người cùi hủi đến cầu cứu Đức Giêsu, Ngài không hề tỏ ra ghê tởm hay xúc phạm đến anh. Trái lại, Ngài «chạnh ḷng thương và giơ tay đụng vào» người anh và nói: «Tôi muốn anh được sạch!» Ta đừng vội nghĩ rằng Ngài là Thiên Chúa nên Ngài không sợ lây nhiễm, hay có lây nhiễm th́ Ngài sẽ dùng phép lạ để tự chữa. Tôi nghĩ rằng Ngài là «người» thật sự, đúng nghĩa một con người, nghĩa là có thể bị lây nhiễm như bao người khác. Và nếu bị lây nhiễm, không hẳn Ngài sẽ dùng quyền phép Thiên Chúa để tự chữa cho ḿnh, cũng như Ngài đă không lạm dụng quyền năng Thiên Chúa để biến đá thành bánh mà ăn khi đói (x. Mt 4,2-4), hay để trốn thoát khi bị bắt (Mt 26,47-56), v.v… Tốt hơn, nên nghĩ rằng Ngài đối xử với anh ta bằng một t́nh yêu chân thành nhất, bằng sự tôn trọng đúng nghĩa nhất của một con người đối với một con người, bất chấp phải trả giá đắt. Và đó là điều ta nên noi gương Ngài khi đối xử với mọi người, nhất là với những người xấu số, bị xă hội coi thường, khinh bỉ. Đạo đức của ta có hay không, ít hay nhiều hệ tại điều này. Sự phân biệt đối xử căn cứ trên giàu nghèo, sang hèn chứng tỏ một tâm hồn nghèo nàn về đạo đức và tâm linh.
2. Thái độ của Đức Giêsu: không muốn ai biết về ḿnh
Bài Tin Mừng cho thấy, sau khi chữa lành căn bệnh nan y như thế, Ngài nói với người được chữa lành: «Đừng nói ǵ với ai cả». Đó là một thái độ thường hằng của Ngài sau khi làm được một điều ǵ đáng khen ngợi, thậm chí đến kinh ngạc: Ngài không muốn được người khác biết đến (x. Mt 8,4; 16,20; 17,9; Mc 1,34; 1,44; Lc 4,41), tŕ phi v́ ích lợi cho họ (chẳng hạn để họ được cứu rỗi). Ngài đă áp dụng đúng điều Ngài khuyên mọi người: «Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,1.3).
Thử đặt ḿnh vào địa vị của Ngài khi làm xong một việc mà không ai làm được, ta sẽ cảm thấy ta muốn được nổi tiếng, được mọi người ca tụng hay khen ngợi, hầu đi tới đâu ta cũng được khâm phục, kính trọng và được đối xử một cách đặc biệt. Ta cũng mong có những đặc quyền đặc lợi v́ những việc phi thường đă làm được. Khi viết được một bài báo hay, giảng được một bài mà ta đoán được nhiều người tâm đắc, làm được một việc tốt, ta mong chờ những lời khen ngợi. Nếu không được khen, ta cảm thấy như bị hụt hẫng, ḷng không thỏa măn. Ta muốn «cái tôi» của ta được ph́nh to lên, to hơn những người khác.
Xét trên b́nh diện tự nhiên, đó là một khuynh hướng rất thường t́nh, rất phổ quát, khá lành mạnh, nó tạo nên động lực để ta cố gắng, nỗ lực hết ḿnh. Tuy nhiên, nếu để khuynh hướng tự nhiên này ảnh hưởng quá đáng trên tất cả mọi việc làm, đến nỗi nó trở thành động lực duy nhất thúc đẩy ta hành động tốt, th́ ta trở nên một con người rất tầm thường, dù ta có làm được những việc phi thường. Lúc đó, ta làm mọi sự chỉ là để được khen, được nổi tiếng, một mục đích hoàn toàn vị kỷ, chứ không c̣n v́ yêu thương, v́ ích lợi cho người khác nữa.
C̣n xét trên b́nh diện siêu nhiên, khuynh hướng này có thể trở thành một mầm nguy hại cho sự phát triển tâm linh, đạo đức. Theo định luật của tâm linh, muốn cho tâm linh lớn lên, phát triển, th́ «cái tôi» phải nhỏ đi, nghĩa là phải sống tinh thần tự hủy, tự xóa ḿnh, quên ḿnh. Đời sống tâm linh càng cao, th́ động lực thúc đẩy ta hành động càng phải vị tha, càng phải «vô kỷ, vô công, vô danh » (=không làm v́ ḿnh, làm xong không cậy công, không mong được người khác biết ḿnh đă làm).
3. Cách Thiên Chúa đánh giá việc làm của con người
Sự thánh thiện của một người được đánh giá theo mức độ vị tha, quên ḿnh khi hành động. Động lực thúc đẩy hành động của một người thánh thiện chính là t́nh yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Càng thánh thiện th́ động lực thúc đẩy càng phải thuần túy là t́nh yêu hơn, và càng ít tính chất vị kỷ đi. Chính t́nh yêu làm cho hành động – dù nhỏ hay lớn – trở nên có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Thánh Phao-lô viết: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có t́nh yêu, th́ tôi cũng chẳng là ǵ cả. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không v́ yêu thương, th́ cũng chẳng ích ǵ cho tôi» (1Cr 13,2-3). Như thế, những việc có vẻ đầy t́nh thương như «đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí», nếu ta làm chỉ v́ mong được tiếng là đạo đức, là thương người, hay để được một lợi ích nào đó cho bản thân ta, chứ hoàn toàn không v́ yêu thương, th́ chẳng có giá trị ǵ trước mặt Thiên Chúa. Nó chẳng phải là một việc đạo đức, mặc dù có vẻ rất đạo đức.
Câu nói trên của thánh Phao-lô cho thấy: một việc làm dù rất nhỏ như quét nhà, giặt giũ, nấu bếp của một người vợ hay người con trong nhà, nếu được làm với tâm t́nh yêu mến Thiên Chúa, nhằm làm cho những người thân yêu của ḿnh tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, th́ có thể có giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Những việc làm nhỏ bé được làm với t́nh yêu ấy rất có thể giá trị trước Thiên Chúa hơn cả những việc làm hết sức lớn lao của những bậc vị vọng trong xă hội cũng như Giáo Hội, nếu những người này làm chỉ v́ muốn được danh tiếng, được thăng quan tiến chức, chứ không phải v́ yêu thương.
Cứ xem cách đánh giá của Đức Giêsu khi quan sát những người bỏ tiền vào thùng dâng cúng cho đền thờ th́ thấy rơ cách định giá trị của Thiên Chúa đối với các việc làm của con người: «Bà goá nghèo này đă bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết» (x. Mt 12,41-44). Cách Ngài đánh giá khác hẳn với cách của con người. Ngài dựa trên tấm ḷng, động lực thúc đẩy hành động, chứ không dựa trên hiện vật hay kết quả của hành động. Cùng một việc làm, nhưng động lực t́nh yêu càng lớn, th́ giá trị công việc càng cao. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể đánh giá chính xác giá trị của một hành động, v́ chỉ Ngài mới biết rơ động lực thúc đẩy của hành động ấy là ǵ.
Cầu nguyện
Lạy Cha, Đức Giêsu luôn luôn tự đồng hóa Ngài với tha nhân của con, nhất là với những người bé mọn, đau khổ nhất (x. Mt 25,40.45; Lc 9,48). Xin cho con biết yêu thương và cư xử với những người bị thế gian coi thường ấy như với chính Cha và Đức Giêsu vậy.
Đức Cha John Cassaigne (sinh năm 1895) là
Linh Mục thuộc Hội Truyền giáo Hội Ba lê
(19-12-1925) đă được cử sang truyền giáo tại
Việt Nam (5-5-1926). Ngài đă lănh sứ mệnh Cha Sở
miền cao nguyên Di Linh (20-10-1926), lúc cha vừa trọn 32 tuổi.
Sau mười lăm năm gây dựng công việc truyền
giáo trên miền thượng. Từ con số không (có một
người tín hữu nào lên đến 400, và biến buôn
thượng trở thành một xứ đạo sầm uất,
ngài đă lập nên một làng thượng cùi để
đêm ngày săn sóc. Ngài thương những người
thượng cùi hơn con đẻ). Mặc dù Ngài
được bề trên Tổng quyền Sàig̣n đặt
lên chức vụ Giám Mục (4-2-1941), nhưng ngài vẫn tiếc
công tŕnh xây dựng làng cùi với 133 người con mà ngài
đă và đang săn sóc. Cuối cùng ước vọng của
ngài cũng được toại nguyện, v́ bệnh cùi
đă chơm nở trên thân thể ngài (1943). Biết ngài
đă mắc bệnh nên Bề trên đă cho ngài từ chức
Giám Mục Sàig̣n để trở về với làng cùi nguyền
sống chết với họ cho đến ngày bệnh cùi
nơi ngài phát nặng (30 năm).
Với công lao xây dựng và hy sinh cho đồng bào kinh thượng thật lớn lao ấy. Ngày 12-4-1972, Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa đă đến tận giường bệnh trao tặng ngài “Bảo Quốc Huân Chương” tri ân ḷng quảng đại sâu xa của ngài. Sau 6 tháng chịu đau đớn v́ bệnh nạn, ngài nói với người Thượng “Tôi hy vọng Chúa nhân lành sẽ đón tôi về. Tôi sẽ ở cùng anh chị em luôn măi”. Ngài để lại lời di chúc: “Tôi ao ước được đau khổ v́ Chúa. Tôi ao ước được chịu khổ lâu dài với anh chị em xấu số của tôi. Tôi ước ao được an nghỉ yên giữa những người anh em đau khổ. Tôi sung sướng được hiến thân cho quê hương Việt Nam muôn đời của tôi (1895-1973)”. Và Ngày (5-11-1973) lễ an táng của người cha yêu thương đă làm trọn được lời di chúc.
Người cùi trong bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay cũng vậy. Anh chẳng biết ǵ về Chúa Giêsu, nhưng anh đă được Chúa Giêsu thương chữa lành cho, kéo anh ra khỏi cơn bệnh ngặt nghèo mà người Do Thái đă cho là Chúa phạt. T́nh thương và bác ái của Cha Cassaigne cũng chạm đến ḷng trắc ẩn mà ngài nhận được nơi Thiên Chúa, đă giúp biết bao người khôi phục lại niềm tin, đă giúp họ hiểu được giá trị của con người là h́nh ảnh của Thiên Chúa.
Thời xưa, không h́nh ảnh nào ghê gớm cho bằng h́nh ảnh người cùi. Nhất là trông người cùi lở loét, mặt mũi sưng phù, tai to, rướm máu, chân tay cụt đi từng ngon. Ai cũng sợ bị lây và muốn tránh xa và chính ngay người cùi cũng cảm thấy ḿnh gớm tởm, thấy ḿnh như đang đi vào cơi chết. Thế nhưng Chúa Giêsu vẫn giơ đôi tay tŕu mến của Ngài để chạm đến họ, để chữa họ, v́ thương họ bị bỏ rơi, bị nhục mạ. T́nh thương của Ngài đi đến chỗ tuyệt cùng, đi đến chỗ dấn thân sâu thẳm.
Là người Công Giáo, chúng ta cũng được mời gọi nên nhân chứng yêu thương và phục vụ cho người khác theo khả năng và sự dấn thân của ḿnh, để mọi người được tiếp nhận ḷng t́nh thương của Chúa trải dài trên chúng ta.
Theo gương người cùi trong Phúc Âm, chúng ta cũng hăy kể cho mọi người biết những điều Chúa Kitô đă làm cho chúng ta, đă thương chúng ta, đă săn sóc chúng ta, để quyền năng của Ngài được mọi người ca ngợi
Thánh với phàm, thiêng với tục là những
phạm trù tôn giáo mà mọi thời và mọi nơi đều
biết đến.
Cái thánh thiêng là cái cao cả siêu việt, khác lạ, đáng kính và nhiều khi đáng sợ.
Cái phàm tục là cái thông thường, cái tầm thường, nhiều khi c̣n có thể đáng khinh và bị coi là ô uế dơ dáy.
Trong các tôn giáo sơ khai, cái thánh thiêng hiện diện ở khắp nơi trong mọi sự từ núi cao đến sông dài, từ đền thờ tới gốc đa, gốc đề, từ tượng thần đến cái b́nh vôi, từ cá sấu đến các tinh tú.
Trái lại, ngày nay trong thế giới tục hoá, mọi sự đều được giải thiêng, chẳng có ǵ thánh thiêng ngoài khoa học thực nghiệm duy lư với các định luật, các công thức.
Trong tiếng Do thái, “thánh” có nghĩa là tách biệt. Cái linh thiêng là cái ǵ tách biệt khỏi cái thường ngày, khỏi cái tầm thường thông tục. Cái thánh thiêng là cái ǵ khác lạ cao xa, ở bên ngoài, ở bên kia, ở bên trên cái thông thường. Do đó Thiên Chúa được gọi là Đấng Thánh, bởi v́ Người cao cả, siêu việt tuyệt đối khác lạ. Người là Đấng siêu việt. Đấng cao cả, linh thiêng phải ngự ở những nơi linh thiêng cao cả, đó là những ngọn núi thánh, những Đền thờ, những nơi tách biệt khỏi chốn phàm trần.
Những người được tuyển chọn để phục vụ Đấng Thánh cũng phải là những người tách biệt khỏi người phàm. Hàng Tư tế trong dân Do thái chỉ được chọn từ chi tộc Lêvi, họ phải là những người không tỳ vết, không tật nguyền, phải giữ những luật lệ khắt khe hơn người thường.
Tất cả những ǵ dành riêng cho Đấng Thánh, những ǵ được coi như thuộc về Người, đó đều là những cái thánh: núi thánh, đền thánh, nơi thánh, ngày thánh, đồ vật thánh. Phạm đến những cái đó là phạm đến chính Đấng Thánh.
Quan niệm lính thánh như vậy muốn tách biệt cái thánh thiêng ra khỏi cái phàm tục. Từ đó người ta đẩy xa Đấng Thánh ra khỏi cuộc đời và ngày càng đóng khung Người vào trong phạm vi của núi thánh, của Đền thờ, của nơi thánh, nơi cực thánh. Không gian của Người ngày càng bị thu hẹp lại.
Dân Israel được gọi là Dân Thánh, dân riêng của Chúa, thuộc về Chúa. Họ tự coi ḿnh là sở hữu Thiên Chúa: Người là của riêng họ, thuộc về họ.
Dân Israel chờ đợi một vị thiên sai ngự đến trong cung thánh đền thiêng.
Trong một thế giới mà cái thánh thiêng và cái phàm tục được xác định rạch ṛi tỉ mỉ, chúng ta mới thấy việc Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Thánh làm người, một người phàm ở giữa những người phàm gặp phải sự chống đối quyết liệt.
Ngay từ giây phút đầu thai, Đức Giêsu đă không đến trong Đền thờ mà lại đến trong căn nhà nhỏ bé ở Nazareth. Người đầu thai trong ḷng một thôn nữ vô danh đối với người Do thái. Rồi khi chào đời Người đă lấy chuồng ḅ làm nhà ở, lấy máng cỏ làm nôi, lấy những kẻ mục đồng vốn bị người Do thái coi là uế tạp làm bầu bạn. Trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu sống như một người tầm thường giữa những người nghèo khổ, đồng hành ăn uống với những người bị coi là tội lỗi, thâu nhận người thu thuế làm môn đệ.
Trang tin mừng Chúa nhật hôm nay, Đức Giêsu không ngại đưa tay sờ tới người cùi để chữa cho người ấy được lành sạch. Đức Giêsu không kinh tởm, không sợ lây, không sợ bị ô uế.
Người mắc bệnh phong cùi đau đớn về thân xác sẽ chết dần chết ṃn. Nỗi đớn đau về tinh thần c̣n khốn khổ hơn nữa. Trong bài đọc 1 sách Lêvi quy định “Người mắc bệnh phong cùi phải mặc áo rách, xoă tóc che râu và kêu lên:”Ô uế! Ô uế!”. Họ bị cách ly ra khỏi cộng đồng, sống tủi nhục cho đến chết. Ai tiếp xúc hay đụng đến họ là bị nhơ bẩn, ô uế. Nếu người phong cùi chỉ tḥ đầu vào nhà nào th́ nhà đó bị lây bẩn đến tận cây kèo trên mái. Không ai được phép chào hỏi một người phong cùi ngoài đường, không được đến gần 2 mét. Nếu người phong đứng đầu gió, người ở cuối gió phải cách xa 45m. Ngay cả một quả trứng cũng không được ăn nếu bán ở đường phố có người phong đi qua. Chưa có bệnh tật nào lại phân rẽ một người với đồng bào ḿnh như bệnh phong. Thê mà Đức Giêsu đă sờ đến người phong. Bàn tay Người đụng vào da thịt bệnh nhân với các vết thương lỡ loét. Người không bị ô uế, bị dơ bẩn nhưng Người làm cho bệnh nhân hết ô uế và được lành sạch, được hội nhập vào đời sống cộng đoàn. Anh ta lấy lại phẩm giá con người. Niềm vui quá lớn lao khiến anh đi loan báo khắp nơi.
Đức Giêsu bác bỏ hoàn toàn quan niệm về sạch dơ của người Do thái. Đối với Người, không có ǵ bên ngoài lại làm cho con người ra dơ trước mặt Thiên Chúa. Cái ǵ dơ, cái ǵ tội lỗi chính là từ trong ḷng con người mà phát xuất ra. Đó là: tà dâm, trộm cắp giết người, ngoại t́nh, tham lam, độc ác xảo trá, trác táng, ganh tị, kêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế.
Đức Giêsu khẳng định: Ngày Sabat được lập ra cho con người chứ không phải con người được dựng nên cho ngày Sabat và v́ thế con người làm chủ luôn ngày Sabat. Tất cả đều v́ con người và cho con người. Đức Giêsu luôn sống t́nh thương cho con người. T́nh thương chính là sự thánh thiện. Đấng Thánh hôm nay có tên gọi là T́nh Thương. T́nh thương là chia sẽ, là hiệp nhất. Sự thánh thiện của Đức Giêsu luôn rộng mở lan toả hương thơm t́nh thương.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết trong cuốn”Giọt máu” một câu rất sâu sắc “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đấy là chí thánh”. Tác giả hiểu ư nghĩa của từ chí thánh theo đúng những ǵ là phàm tục, thế gian là cơi hồng trần bụi bặm. Cái chí thánh chính là d́m ḿnh, hoà vào trong bùn lầy, trong tội lỗi để làm cho từ vũng bùn lầy, từ vực thẳm tội lỗi ấy nở hoa, rực lên sự thánh thiện.
T́nh thương của Chúa Giêsu là t́nh thương cúu thế, muốn thanh tẩy con người tội lỗi, rửa sạch tâm hồn và trao ban sự sống mới.
Người Kitô hữu mỗi ngày đến nhà thờ dự tiệc Thánh Thể, tiệc T́nh thương. Đưa tay đón nhận Bánh Thánh là đón nhận t́nh thương của Chúa. Bàn tay đón nhận Bánh Thánh cũng là bàn tay bàc ái yêu thương góp phần thánh hoá trần gian. Người tín hữu luôn được mời gọi sống như lời Thánh Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2:”Dù ăn, dù uống, dù làm việc ǵ, anh em hăy làm v́ danh Chúa Kitô”.
Trong thơ gởi cho tín hữu Êphêsô, Thánh
Phaolô viết: Hăy cẩn thận, xem xét cách sống của
ḿnh, đừng sống như kẻ dại khờ,
nhưng hăy sống như kẻ khôn ngoan, biết tận dụng
mọi thời giờ... v́ thế anh em đừng hoá ra
ngu xuẩn, nhưng hăy t́m hiểu đâu là ư Chúa (Ep 5,14.15).
Có thể nói, rất nhiều người coi ư Chúa giống như một điều nặng ngàn cân sắp sửa rơi vào họ. Nhưng thật sự mà nói từ ngữ “ư Chúa” đă được chuyển dịch từ tiếng Do thái và Hy lạp. Ư nghĩa của nó chính là sự mong mỏi, ước ao, mong chờ t́nh yêu nơi người khác. Không phải chỉ trong tâm trí, hoặc trong trái tim những phải là toàn thể con người. Sự mong đợi này đem đến cho chúng ta nhận thấy sự sâu thẳm chờ đợi của Chúa đối với chúng ta. Nhờ thế, chúng ta lănh nhận Thánh ư Chúa với tất cả tấm ḷng của chúng ta. Thánh Phaolô viết: “Hăy thấm nhuần Thần Khí, cùng nhau đối đáp những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và Thánh Ca do Thần Khí linh ứng: hăy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19). Nơi khác Thánh Phaolô viết, “Hăy mặc lấy Đức ái, đó là mối dây liên kết tuyệt hảo... và hăy hát dâng Thiên Chúa, những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và Thánh Ca do Thần Khí linh ứng với tất cả tâm hồn” (Cl 3:14,16).
Khi chúng ta mong đợi để thánh ư Chúa thể hiện nơi chúng ta, chúng ta cảm nhận thấy cuộc sống của ḿnh mang nhiều ư nghĩa và không ngừng hát những bài Thánh Ca. Chúng ta sẽ lănh nhận những sự thúc đẩy mănh liệt mỗi khi Chúa hành động. Chúng ta là những tín hữu, là Giáo Hội luôn dâng lên Chúa không ngừng những bài Thánh Ca để ca tôn danh Ngài.
Nhưng làm cách nào để chúng ta hát những bài Thánh Ca đó? Giống như nhà viết nhạc luôn mong muốn những người ca trưởng và những ca viên tŕnh diễn những ca khúc của họ theo ư ḿnh. Có rất nhiều điệu nhạc để tŕnh diễn: như “adagio” có nghĩa là chậm; “allegro” có nghĩa là “nhanh, vui tươi” và “con brio” có nghĩa là “hoạt bát, hứng khởi.” Đó chính là cuộc sống mà Chúa Kitô kêu mời chúng ta. Chúng ta phải đáp ứng cách hăng say khi Chúa Kitô mời gọi chúng ta trong cuộc sống mới.
Cuộc sống phấn khởi của chúng ta sống động được đặt nền tảng trong chân lư Phúc Âm. Sức mạnh đó không đến với chúng ta do “quyền bính chính phủ” hoặc từ những vị lănh tụ quốc gia, các nhà độc tài, hoặc do chính nơi con người tự măn của ḿnh. Nhưng sức mạnh tuyệt đối đó do chính Thiên Chúa ban cho chúng ta. Ngài là Đấng tác tạo chúng ta. Đấng đă giải thoát chúng ta khỏi tối tăm. Đấng đă nhận chúng ta là những con cái của Ngài và được Ngài chúc phúc. Chúa Kitô cũng không ĺa bỏ chúng ta, Ngài nói: “Ta ở với các con! Hăy nhận lấy sự sống và sống thật tốt lành.”
Một h́nh ảnh thực tiễn nhất là khi chúng ta thẩy một em bé lên cao, rồi chúng ta chụp được nó. Em bé rất là thích và la to rằng “làm nữa đi” và nếu chúng ta tiếp tục làm như vậy, chúng ta sẽ luôn nghe được em bé kêu lên giống như những lần trước.
Đối với Thiên Chúa cũng không khác hơn. Khi Ngài tạo một bông hoa đẹp, nó cũng kêu lên như vậy và Ngài đă tạo dựng nên muôn vàn bông hoa tuyệt đẹp. Ngài không ngừng tạo nên chúng. Để nhận thức được ơn cứu rỗi, nhận biết ḿnh được cứu chuộc, và trở nên một tạo vật hoàn ư của Thiên Chúa, chúng ta phải trở nên giống như Ngài. Là một Kitô hữu, chúng ta được biến đổi trở nên những người không cảm thấy chán nản, vô tri, tăm tối do những phát triển của thế giới ngày nay.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, người phong cùi quỳ xuống trước Chúa Giêsu với tất cả ḷng tin của ông và nói: “Ngài có thể chữa tôi lành bệnh,” ông ta nói tiếp: “Nếu Ngài thực hiện, tôi sẽ khỏi.” Chúa Giêsu đặt tay trên người đó và nói: “Ta sẽ làm. Hăy chỗi dậy”. Ngay tức th́, người phong cùi được lành bệnh. Sự chữa lành bệnh này có ư nghĩa là từ nay người phong cùi không c̣n sống trong sự khinh chê. Ông đă được giải thoát khỏi gánh nặng thể xác. Chính v́ vậy ông đă không ngừng ca tụng và loan truyền cho mọi người biết về quyền năng của Chúa Giêsu.
Hầu hết những ai cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong tâm hồn của ḿnh. Họ đều thay đổi cách sống của họ. Như Thánh Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan; Maria, Mattha, người đàn bà xứ Samarita; người đàn bà ngoại t́nh, người mù v. v... khi Chúa Giêsu đi vào cuộc sống của họ, họ được sống với Chúa. Họ cảm nhận được sự mới mẻ nơi Thiên Chúa là Đấng tạo thành mọi vật. Và Ngài vẫn không ngừng công việc đó; v́ thế, họ đă thay đổi cách sống trong cuộc sống của họ.
Trong Phúc Âm hôm nay, những người theo Chúa Kitô là những người luôn vui vẻ, hoạt bát, vui tươi ngay cả những lúc gặp khó khăn. Sách Tông Đồ Công Vụ viết: “Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêsusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội... Ông Saolô th́ phá hoại Hội Thánh. Ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục. Những người không bị bắt phải tản mác khắp nơi loan báo lời Chúa. Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân ở đó. Dân chúng một ḷng lắng nghe những điều ông Philípphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm... Trong thành, người ta rất vui mừng (Cv 8:1,3-8).
Chúa Giêsu nói với các môn rằng, “Như Cha đă thương yêu Ta, Ta cũng yêu thương các con... Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Rồi Ngài dậy họ làm thế nào để niềm vui của họ được trọn vẹn: “Hăy yêu thương nhau, như Thầy đă yêu thương các con” (Ga 15,9.11-12).
Cho dù bất cứ v́ lư do ǵ, chúng ta sống trong cộng đoàn, chúng ta làm tất cả để thoả ḷng khao khát Thiên Chúa. Khi chúng ta cảm nhận được Thiên Chúa trong tâm hồn, chúng ta vui mừng, phấn khởi trong cuộc lữ hành Kitô hữu. Khi chúng ta thoát khỏi con người ích kỷ, chúng ta phục vụ tha nhân th́ lúc đó chúng ta càng nhận được sự Chúa hiện diện trong chúng ta. Và chúng ta đáp lại cách nhiệt t́nh đối với t́nh yêu của Thiên Chúa, Đấng luôn không ngừng tác tạo mọi vật, không phải chỉ những bông hoa nhỏ dại, nhưng là những con người hạnh phúc.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa v́ đă ban cho chúng con biết phụng thờ Chúa trong vui tươi.
(Lm. FX. Vũ Phan Long)
1.- Ngữ cảnh
Tác giả đă đặt câu truyện này vào thời gian Đức Giêsu thi hành sứ vụ tại Galilê. Chúng ta chỉ biết tổng quát như thế nhờ c. 39. So sánh với hai tác giả nhất lăm kia (Mt 8,2-4; Lc 5,12-16), chúng ta cũng thấy bối cảnh không rơ ràng. Mỗi tác giả đă kể lại câu truyện này theo những bận tâm thần học của ḿnh mà thôi. Trong TM Mc, với mẩu truyện cuối cùng này của ch. 1, hành động quyền lực của Đức Giêsu đă đạt tới đỉnh cao nhất, v́ Người chữa lành được bệnh phong hủi.
2.- Bố cục
Bản văn này có ba phần:
1) Chữa lành người phong hủi (cc. 40-42);
2) Lệnh cấm nói và tŕnh diện tư tế (cc. 43-44);
3) Biến cố được phổ biến và hậu quả (c. 45).
3.- Vài điểm chú giải
- người bị phong hủi (40): Sách Lêvi đă nói đến chứng bệnh này trong ch. 13–14: bệnh lây lan đặc biệt nguy hiểm, cũng là h́nh phạt dành cho tội lỗi. Chính v́ thế, người ta không nói “chữa lành” nhưng là “được thanh tẩy (làm cho sạch)” khỏi bệnh phong hủi. Ta hiểu được một lối chơi chữ trên hai từ Híp-ri nâga’ (“nó đánh”) và nega’ (“đ̣n đánh”; “vết phong hủi”; “người mắc bệnh phong hủi”) (x. 2 V 15,5; 2 Sb 26,19-20; Is 53,4.8).
Người tôi tớ của Đức Chúa được mô tả như người phong hủi (Is 53,3-5). Nh́n thấy Người, dân chúng tưởng Người đă phạm tội (x. G 4,7tt; 8,13tt; 2,7-8). Vị ngôn sứ không phủ nhận nguyên nhân là tội, nhưng đây là tội của dân.
Từ đó, ta hiểu v́ sao xử lư những ca bệnh phong hủi được dành cho các tư tế: các vị là những nhà chuyên môn phân biệt được các dạng bệnh, và chỉ các vị mới đưa người đă lành bệnh tái tháp nhập cộng đồng dân Chúa bằng nghi lễ thanh tẩy (x. Lv 13; 14,19; Đnl 24,8).
Tuy nhiên, nếu đúng là bệnh phong th́ người ta coi là chỉ có Thiên Chúa mới chữa được, bởi v́ cũng giống như gọi một người chết về lại với cuộc sống. Thiên Chúa cũng có ban quyền chữa bệnh phong cho những ngôn sứ lớn, như Môsê (Ds 12,9-14; x. Xh 4,6-8) và ngôn sứ Êlisa (2 V 5,9-14). Vậy, người ta c̣n có thể chờ đợi ai chữa bệnh phong hủi trong tương lai, nếu không phải là chờ đợi Đấng Mêsia (x. Mt 11,5)?
- Người chạnh ḷng thương (41) (HL. splanchnistheis, partic. aorist của động từ splanchnizomai do từ ta splanchna, ḷng dạ): “bị rúng động”; “bị chuyển động trong ḷng”.
- giơ tay đụng vào anh: Hành vi này là tiêu biểu của một cuộc chữa lành bằng uy quyền. “Đụng” đây không phải là vi phạm quy định của luật lệ Do Thái liên hệ đến sự trong sạch, nhưng là chuyển thông sức mạnh chữa lành.
- Người nghiêm giọng (“làm gắt”, NTT) (43): Động từ Hy Lạp embrimaomai, “khịt khịt” (ngựa); “phát tiếng hừ hừ do cơn giận dữ trong ḷng” (người). Đức Giêsu cho hiểu rằng Người vừa làm một việc ngoại lệ là chữa bệnh công khai, ngược lại với quyết định của Người. Do đó, Người “đuổi” anh này đi ngay để người ta đừng hiểu sai sứ mạng của Người. Động từ embrimaomai không có từ tương đương trong ngôn ngữ Tây phương (TOB: s’irritant; BJ: en le rudoyant; NAB: warning him sternly; Mann: sent him away with the stern warning).
- để làm chứng cho người ta biết (“để làm chứng trước mặt họ”, NTT) (44): Có những người cho rằng câu này nhắm đến dân chúng (chẳng hạn, cha Lagrange: “pour l’attester au peuple”). Nhưng hiểu như thế có phần ép bản văn. Quả thật, Đức Giêsu bảo người phong đến tŕnh diện tư tế và nhắc anh phải dâng một hy lễ đúng theo Lv 14,1-32, nhưng theo ư nghĩa minh nhiên của bản văn, đại danh từ quy về các tư tế. Việc chuyển đi từ số ít sang số nhiều được giải thích là: việc làm chứng sẽ vượt quá cá nhân vị tư tế chứng thực, để đến với toàn giai cấp tư tế. Như thế, Đức Giêsu đă giao cho anh này một sứ mạng phải thực hiện nơi các tư tế (x. Mc 5,19): việc chữa lành người phong hủi là một dấu chỉ thiên sai. V́ chiếu cố đến họ, Đức Giêsu đă miễn chuẩn lệnh truyền về bí mật thiên sai.
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Chữa lành người phong hủi (40-42)
Với bài tường thuật Đức Giêsu chữa người phong hủi để kết thúc ch. 1, Mc đưa hành vi quyền lực của Đức Giêsu tới tuyệt đỉnh. Bệnh phong được người Do Thái coi như là một chứng bênh đặc biệt trầm trọng. Lời khẩn cầu của người bệnh chứng tỏ một niềm tin tưởng phi thường: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (c. 40). Anh ta gán cho ư muốn của Đức Giêsu một quyền lực to lớn. Lời khẩn cầu này cũng vừa là một thách đố vừa chứng tỏ lối xử sự trước đây của Đức Giêsu đă gây ra ấn tượng nào và thức tỉnh những niềm chờ mong nào. Đức Giêsu hành động như Thiên Chúa: chỉ cần Người muốn một điều là điều ấy được thực hiện. Người phong hủi được chữa lành tức khắc.
* Lệnh cấm nói và tŕnh diện tư tế (43-44)
Đức Giêsu đă gửi anh đi tŕnh diện với các tư tế, để các vị này ghi nhận bệnh đă lành và để cho kẻ trước đây bị loại trừ nay được chấp nhận vào lại trong cộng đồng mà chia sẻ cuộc sống và hiệp thông vào nền phụng tự của anh em ḿnh. Đức Giêsu từ chối mọi thứ quảng cáo ầm ĩ và cấm người đă khỏi bệnh nói về chuyện ḿnh được chữa khỏi.
* Biến cố được phổ biến và hậu quả (45)
Tuy nhiên, anh này không tuân theo lệnh của Đức Giêsu, anh đă rao truyền khắp nơi những ǵ đă xảy ra cho anh. Do đó, danh tiếng của Đức Giêsu càng lan rộng hơn nữa và tiếp tục làm gia tăng ḷng tin tưởng vào Người: dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người. Thật ra, các hành vi quyền lực của Đức Giêsu không có ư nghĩa tối hậu nơi sự kiện là có người bệnh nào đó được khỏi. Ư nghĩa của các hành vi đó là cho thấy rơ ràng quyền lực cao vời của Thiên Chúa, thấy rằng Triều Đại Thiên Chúa đang đến gần, để mọi người có thể tin vào Người.
+ Kết luận
Chữa bệnh phong hủi là một dấu chỉ thiên sai. Mục tiêu Mc nhắm là cho thấy Đức Giêsu đến loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, làm chứng về quyền chúa tể của Thiên Chúa đang t́m cách cứ độ con người. Tuy nhiên, ơn cứu độ Người hứa ban không phải là một ơn cứu độ phi nhân, trái lại được gửi đến cho trọn vẹn con người. Thiên Chúa đă làm điều đó nơi Đức Giêsu, Đấng có một trái tim biết thương cảm.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Như người bệnh của bài Tin Mừng, chúng ta được lưu ư: không ép buộc Thiên Chúa luôn luôn phải sẵn sàng trợ giúp chúng ta và theo cách chúng ta quy định. Chúng ta cứ bày tỏ với Ngài t́nh cảnh khốn cùng của chúng ta, rồi để Ngài định liệu:”Nếu Ngài muốn”.
2. “Người phong cùi này cung cấp cho chúng ta một lời khuyên rất tốt về cách cầu nguyện. Anh không nghi ngờ ư muốn của Chúa, y như thể anh không muốn tin vào sự tốt lành của Người. Khi nói rằng nếu muốn, Chúa có thể thanh tẩy anh, anh khẳng định quyền lực ấy thuộc về Chúa, đồng thời khẳng định đức tin của anh… Nếu đức tin yếu, đức tin trước tiên phải được củng cố. Chỉ khi đó đức tin mới cho thấy tất cả quyền lực của ḿnh là đạt được việc chữa lành tâm hồn và than xác.
Có lẽ Tông Đồ Phêrô đă nói đến đức tin đó khi bảo: “Người đă dùng đức tin để thanh tẩy ḷng họ” (Cv 15,9)… Đức tin tinh tuyền, được sống trong t́nh yêu, được duy tŕ nhờ sự nhẫn nại, kiên nhẫn trong chờ đợi, khiêm nhường cách khẳng định ḿnh, cương quyết trong niềm tin tưởng, đầy trọng kính trong lời cầu nguyện và đầy khôn ngoan trong những ǵ cầu xin, đức tin này chắc chắn trong mọi hoàn cảnh được nghe lời này của Chúa: ‘Tôi muốn’” (Thánh Paschase Radbert (?-khoảng 849), đan sĩ Biển đức).
3. Chúng ta học nơi Đức Giêsu sự kín đáo trong việc phục vụ. Như Đức Giêsu, người Kitô hữu phục vụ, cứu chữa, v́ ḷng ḿnh cảm thương sâu sắc nỗi khốn cùng của anh chị em ḿnh, chứ không phải để chứng tỏ bản thân. Người Kitô hữu phục vụ v́ ḷng chan ḥa bác ái, chứ không phải v́ thiếu thốn (đi t́m sự nể trọng của người khác).
4. Hôm nay, chúng ta cũng học nơi người phong thái độ mau mắn đi làm chứng để bày tỏ ḷng biết ơn đối với Thiên Chúa, Đấng đang liên tục ban muôn vàn ân sủng cho chúng ta. Muốn vậy, cần phải ư thức chúng ta đă và đang nhận được những ân huệ lớn lao nào.
TẠI SAO NGƯỜI ĐƯỢC CHỮA
LÀNH KHÔNG GIỮ LỜI ĐỨC GIÊSU CĂN DẶN?
Dẫn nhập
Bài Tin Mừng Mc 1,40-45 thuật lại việc Đức Giêsu chữa một người mắc bệnh phong hủi và những ǵ xảy ra sau đó. Không phải t́nh cờ khi bản văn lặp đi lặp lại bốn lần từ “sạch”, trong đó 3 lần là động từ katharizô: “sạch” (Mc 1,40.41.42) và 1 lần danh từ katharismos“sự sạch” (1,44). Người mắc bệnh phong “muốn được sạch” và Đức Giêsu “muốn anh ta được sạch”. Hai ước muốn gặp nhau và lập tức anh ta được sạch. Sau đó Đức Giêsu nói anh ta đi tŕnh diện tư tế, để xác nhận “sự sạch” (được chữa lành) nơi anh ta. Như thế, bệnh phong hủi làm người ta trở thành “không sạch” và bị cách ly khỏi xă hội. Bệnh phong làm cho sự giao tiếp và tương quan của người bệnh với người khác bị cắt đứt. Vậy làm thế nào để biến đổi từ t́nh trạng “không sạch” trở thành “được sạch”, từ t́nh trạng “tương quan bị cắt đứt” trở thành “có tương quan với người khác”?
Điều lạ lùng trong cách hành văn là sau khi chữa lành, Đức Giêsu lại đuổi anh ta đi ngay, dặn anh ra không nói ǵ với ai và đi tŕnh diện tư tế, nhưng anh ta đă không giữ lời Đức Giêsu căn dặn. Thay v́ giữ im lặng th́ người được chữa lành lại đi “rao giảng nhiều nơi, đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai đi vào thành” (1,45). Sự việc anh ta không giữ lời Đức Giêsu trong bản văn có ư nghĩa ǵ? Bài viết sẽ bàn về việc chữa lành bệnh phong hủi và phản ứng lạ lùng của người được chữa lành. Cụ thể là (1) Người mắc bệnh phong đă làm ǵ trước khi được chữa lành, (2) đă phản ứng thế nào sau khi được chữa lành và (3) tại sao không làm theo lời Đức Giêsu căn dặn.
1. Hành động trước khi được chữa lành
Câu chuyện mở đầu bằng việc người mắc bệnh phong đến gặp Đức Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin để Người làm cho anh được sạch. Về phía Đức Giêsu, Người chạnh ḷng thương, giơ tay đụng vào anh và nói: “Tôi muốn, anh hăy được sạch” (1,41). Lập tức bệnh phong biến khỏi và anh ta được sạch. Như thế, việc chữa lành được thực hiện từ cả hai phía.
Ba động tác về phía người mắc bệnh phong hủi là “đến với”, “quỳ xuống” và “van xin Đức Giêsu” bằng một lời nói: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi sạch” (1,40). Về phía Đức Giêsu, Người cũng thực hiện ba bước, trước hết Người chạnh ḷng thương, thứ đến Người đụng vào người phong hủi và sau cùng Người nói lên ư muốn của Người: “Tôi muốn, anh hăy được sạch” (1,41). Trong hai lời nói của hai nhân vật, đều xuất hiện động từ “muốn” (thelô) và động từ “sạch” (katharizô). Như thế, “ước muốn được sạch” của người bệnh phong chỉ có thể được thực hiện khi anh ta đối diện với một người vừa “muốn chữa lành”, vừa “có khả năng chữa lành”. Nếu “không muốn” và “không xin” th́ chẳng có ǵ để nói, nhưng nếu “muốn” và “van xin” mà không gặp được “có khả năng” th́ cũng không có ǵ xảy ra.
Bản văn vừa đề cao hành động của người bị phong hủi: “Đến với Đức Giêsu” và “van xin Người”. Đây là hành động “cầu xin” dựa trên niềm tin, bởi v́ đây không phải là cách chữa bệnh b́nh thường. Đồng thời bản văn đề cao “ước muốn” và “khả năng chữa lành” của Đức Giêsu. Người là Đấng có quyền năng làm cho người mắc bệnh phong “được sạch”, nghĩa là làm cho một người bị loại trừ khỏi cộng đoàn được hội nhập trở lại và có thể thiết lập tương quan với mọi người trong cộng đoàn.
2. Phản ứng sau khi được chữa lành
Sự hội nhập cộng đoàn của người được chữa lành diễn tả qua sự đảo ngược cách ngoạn mục. Từ chỗ anh ta không được tiếp xúc với cộng đồng đến chỗ trở thành người rao giảng về lời của Đức Giêsu. Người thuật chuyện cho biết: “Vừa đi khỏi, anh ta đă bắt đầu rao giảng nhiều nơi và loan truyền lời ấy” (1,45a). Câu kết của bài Tin Mừng cho thấy tầm ảnh hưởng lời rao giảng của anh ta: “...đến nỗi Người (Đức Giêsu) không thể công khai đi vào thành, Người đành ở những nơi hoang vắng bên ngoài và người ta từ khắp nơi đến với Người” (1,45b).
Người mắc bệnh phong được chữa lành là người đă thi hành sứ vụ của Đức Giêsu: “Rao giảng” (kêrussô). Thực vậy, trước đoạn văn Mc 1,40-45, tác giả Tin Mừng Máccô cho biết ở Mc 1,39: “Đức Giêsu đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng (kêrussô) trong các Hội đường.” Đến Mc 1,45, chính người được chữa lành đi “rao giảng nhiều nơi”, c̣n Đức Giêsu, Người lại không di chuyển để “giảng dạy” mà “ở những nơi hoang vắng bên ngoài và người ta từ khắp nơi đến với Người” (1,45b). Chi tiết: “Người ta từ khắp nơi đến với Người” cho thấy kết quả lời rao giảng của người bị bệnh phong được chữa lành là ngoài sức tưởng tượng.
Đầu đoạn văn, người phong “đến với Đức Giêsu” chứ không phải Đức Giêsu đến với anh ta; đến cuối đoạn văn, Đức Giêsu lại không thể công khai vào thành, v́ người được chữa lành đă làm cho nhiều người khác từ khắp nơi “đến với Đức Giêsu”. Bản văn muốn nói với độc giả rằng ai đă thực sự gặp được Đức Giêsu và được Người “chữa lành bệnh tương quan”, th́ người ấy sẽ phản ứng bằng cách “rao giảng về Đức Giêsu” và làm cho “nhiều người khác”, “đến với Người”. Điều lạ trong bản văn là “lời rao giảng thành công” của người được chữa lành là do “không giữ lời Đức Giêsu”.
3. Ư nghĩa của việc “không vâng lời” ở Mc 1,44-45
Sau khi người bệnh được chữa lành, Đức Giêsu đă làm ǵ và nói ǵ với anh ta? Người nghiêm giọng, đuổi anh ta đi ngay và nói với anh ta: “Coi chừng, đừng nói ǵ với ai, nhưng anh hăy đi tŕnh diện tư tế, và v́ anh đă được sạch, anh hăy tiến dâng những ǵ Mô-sê đă truyền, để làm chứng trước mặt họ” (1,44).
Người được chữa lành đă hoàn toàn không giữ lời Đức Giêsu dặn. Đức Giêsu nói “Coi chừng, đừng nói ǵ với ai” th́ anh ta lại “loan truyền lời ấy cho cả thành biết”. Đức Giêsu bảo “hăy đi tŕnh diện tư tế và tiến dâng những ǵ Mô-sê đă truyền” th́ anh ta lại không đi tŕnh diện tư tế và dâng của lễ mà đi vào thành rao giảng và nói với mọi người về việc anh ta được chữa lành. Tại sao anh ta không giữ lời Đức Giêsu căn dặn? Kiểu hành văn này có ư nghĩa ǵ?
Lời dặn của Đức Giêsu có thể hiểu là nhằm tránh sự hiểu lầm về tư cách Mê-si-a của Người và Người có thể vào các thành rao giảng. Điều đáng chú ư là việc người được chữa lành không giữ lời dặn của Đức Giêsu trong đoạn văn mang lại những hiệu quả tích cực. Có thể liệt kê ba ư sau:
(1) Điều tích cực thứ nhất là anh ta nói về Đức Giêsu cho mọi người, nhưng lời rao giảng của anh ta không thay thế lời rao giảng của Đức Giêsu, ngược lại, lời rao giảng của người được chữa lành đă làm cho “mọi người đến với Đức Giêsu”.
(2) Điều tích cực thứ hai là thay v́ Đức Giêsu vào thành, đi rao giảng cho đám đông, th́ bây giờ dân chúng từ khắp nơi đến với Người. Nhờ lời rao giảng của người được chữa lành, Đức Giêsu có thể giảng dạy mà không phải đi đâu cả. Đồng thời, nhờ anh ta mà cử toạ được chuẩn bị trước, dân chúng chủ động đến với Đức Giêsu nghĩa là họ thực sự muốn nghe lời Người.
(3) Điều tích cực thứ ba của việc “không giữ lời dặn của Đức Giêsu” là cách thức bày tỏ tác động lớn lao của việc chữa lành nơi anh ta. Làm sao anh ta có thể im lặng khi niềm vui gặp được Đức Giêsu, hạnh phúc được chữa lành, được hội nhập vào cộng đồng là quá lớn. Để diễn tả sự sống mới, cuộc đời mới, tương quan mới, anh ta không c̣n cách nào khác là ra đi loan báo về Đức Giêsu. Dân chúng khắp nơi đă cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc ấy, nên họ đă kéo đến với Đức Giêsu, để cũng “được sạch” tâm linh, nghĩa là có thể thiết lập tương quan với Đức Giêsu và tương quan với người khác.
Đề tài người được chữa lành “không giữ lời Đức Giêsu dặn” (Mc 1,44-45) c̣n xuất hiện ở các nơi khác trong Tin Mừng Mác-cô và đây là một trong những kiểu hành văn độc đáo của văn chương Mác-cô. Đề tài tương phản: “Càng cấm, càng nói” đă được phân tích phần nào trong bài viết: “Bí mật công khai”. Cấm không được nói mà ai cũng biết! (http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/05/tim-hieu-tm-mc-bi-mat-cong-khai-cam.html). Chi tiết “không vâng lời Đức Giêsu” trong Mc 1,40-15, nhằm cho độc giả biết hai thông tin:
(1) Theo truyền thống Do Thái, để người bệnh phong hủi chữa lành có thể hội nhận vào cộng đồng, người ấy phải “tŕnh diện tư tế, và tiến dâng những ǵ Mô-sê đă truyền” (1,44).
(2) Đối với độc giả dân ngoại (cũng là độc giả qua mọi thời đại), họ được mời gọi hành động như người phong được chữa lành: Ra đi rao giảng để mọi người từ khắp nơi đến với Đức Giêsu.
Kết luận
Đoạn Tin Mừng Mc 1,40-45 giúp độc giả suy gẫm về hai đề tài lớn: (1) “Tương quan” và “hội nhập cộng đoàn”, “hội nhập xă hội”; (2) Thể hiện niềm vui và hạnh phúc được chữa lành bằng cách rao giảng “lời ban sự sống” đă đón nhận để mọi người đến với Đức Giêsu.
Con người có thể “cô đơn” và “đơn độc” ngay giữa đám đông. Có những người hoàn toàn khoẻ mạnh về thể lư, nhưng tương quan với người khác lại có thể bị tổn thương, bị rạn nứt, thậm chí bị cắt đứt, đổ vỡ, nghĩa là trở thành những người “bị tách rời khỏi cộng đoàn” hay “tự ḿnh cắt đứt tương quan với người khác”. Bài Tin Mừng dùng h́nh ảnh “bệnh phong hủi” để diễn tả “tương quan bị cắt đứt” giữa cá nhân và cộng đoàn. V́ thế, cần đến với Đức Giêsu để được Người chữa lành. Hành tŕnh của người mắc bệnh phong trong bản văn là lời mời gọi độc giả hăy “đến với và van xin” Đức Giêsu. Người sẽ chữa lành họ, v́ Người là “Đấng muốn chữa lành” và “có khả năng chữa lành”. Nghĩa là Đức Giêsu có khả năng làm cho độc giả được thanh tẩy, được sạch, được hội nhập cộng đoàn và bước vào tương quan tốt đẹp với người khác.
Đồng thời, một khi đă được chữa lành, độc giả sẽ cảm nhận niềm vui và hạnh phúc khôn tả, đó là niềm vui và hạnh phúc được bước vào tương quan với Đức Giêsu và với mọi người. Niềm vui và hạnh phúc lớn lao này sẽ thúc đẩy những ai được chữa lành lên đường, ra đi rao giảng và loan báo về Đức Giêsu để mọi người cũng được đón nhận niềm vui và hạnh phúc ấy bằng cách t́m đến với Đức Giêsu. Cách thức rao giảng mà bản văn đề cao là rao giảng như thế nào đó, để không phải mọi người đến với ḿnh, nhưng để họ “đến với Đức Giêsu”, “lắng nghe Đức Giêsu” và tin vào Người. Ước mong độc giả thực sự gặp gỡ Đức Giêsu, bước vào tương quan tràn đầy sức sống với Người và với mọi người. Từ đó hân hoan ra đi rao giảng và làm chứng về Đức Giêsu để chia sẻ niềm vui và hạnh phúc đă lănh nhận cho những người xung quanh ḿnh./.
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2012/02/mc-140-45-tai-sao-nguoi-uoc-chua-lanh.html
Vài hàng sơ lược
Trong đoạn Phúc Âm này chúng ta nghe Mác-cô kể lại câu chuyện người bị bệnh phong xin Chúa Giêsu chữa lành. Trước khi đi vào đoạn Phúc Âm, chúng ta hăy trở về với bối cảnh xă hội Do-thái, để hiểu được t́nh trạng và hoàn cảnh của người bị bệnh Phong thời đó. Theo Cha Cantalamesse th́ sách Lêvi dạy rằng, người nào bị nghi mắc bệnh phong, phải được đưa tới một vị tư tế, vị này, sau khi khám xét, “tuyên bố người đó là dơ.” Để làm cho những sự việc ra xấu hơn, người phong đáng thương hại, bị loại khỏi t́nh bạn con người, chính người bịnh phải làm cho kẻ khác tránh xa ḿnh, bằng cách báo cho họ biết sự nguy hiểm: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoă tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế! Ô uế! “Bao lâu c̣n mắc bệnh, th́ nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13, 45-46)
Về điều này, Rudolf Pesch giải thích rằng: “Những người bị bệnh Phong được coi là kẻ bị ô uế, những người đáng chết. Họ phải xa ĺa với xă hội, phải tự động cách ly với xă hội. Dù luật lệ trong Thánh Kinh có nghiêm ngặt, nhưng sự cách ly người Phong ra khỏi xă hội không được làm triệt đở ở khắp mọi nơi công cộng. Người bệnh Phong không được bước vào thành thánh Giê-ru-sa-lem. Nhưng trong các làng mạc, họ không bị cách ly hoàn toàn. Với những điều kiện đ̣i hỏi nhất định, h́nh như người ta cũng có thể để cho người bị bệnh Phong bước vào đền thờ. Dù thế nào, th́ người bệnh Phong vẫn bị coi là những người bị Thiên Chúa xa cách.
Như vậy ai có thể chữa cho người bị bệnh Phong? Theo Adolf Pohl th́: “Việc chữa lành khỏi bệnh Phong được coi như là sự Phục Sinh từ cơi chết. Và người ta chỉ có thể chờ mong Thiên Chúa làm điều đó. Khi Vua dân Ít-ra-en, trong sách thứ 2 các Vua 5,7, nhận lệnh chữa lành cho người bị bệnh Phong, th́ ông đă thốt lên rằng: “Ta đâu có phải là vị thần cầm quyền sinh tử, mà ông ấy lại sai người này đến nhờ ta chữa hắn khỏi bệnh phung hủi?”
Ngoài ra, nói chung chung về bệnh Phong, theo Cha Cantalamesse th́ “hai nhân tố lạ lùng đă góp phần gia tăng sự ghê tởm trước bệnh phong, đến nỗi biến nó thành biểu tượng của sự bất hạnh nhất có thể giáng xuống một con người, và cô lập những nạn nhân vô phúc tội nghiệp trong những con đường vô nhân đạo nhất.
Nhân tố thứ nhất là sự xác tín rằng, cơn bệnh này lây lan đến nỗi làm nhiễm độc bất cứ ai có thể đă tiếp xúc với người bệnh; nhân tố thứ hai, cũng không có cơ sở, v́ bệnh phong là h́nh phạt v́ tội lỗi.
Nhân vật đă góp phần hơn hết thay đổi thái độ và luật pháp đối với những người bệnh phong là Raoul Follereau (1903-1977). Trong năm 1954 ông đă thiết lập Ngày Thế Giới Bệnh Phong cổ vơ những đại hội khoa học và cuối cùng, trong năm 1975 đă thành công để luật pháp thu hồi sự kỳ thị những người bệnh phong. Ngoài ra, có một câu chuyện rất cảm động về tấm ḷng của ông Raoul giành cho người Phong: “Khi đến thăm một trại cùi, ông Raoul Follereau tiến đến bên cạnh một cô gái cùi và đưa tay ra bắt. Cử chỉ này khiến cô gái bỡ ngỡ. Nhưng lạ thay, cô gái lại không chịu ch́a tay ra đáp lễ. Thấy ông Raoul ngỡ ngàng, vị giám đốc bèn giải thích: Thưa ông, qui luật của trại chúng tôi không cho phép bệnh nhân bắt tay khách. Cám ơn ông giám đốc. Nhưng qui luật trại chỉ cấm bệnh nhân bắt tay khách, nhưng đâu cấm khách hôn bệnh nhân phải không? Vừa nói, ông Raoul vừa tiến đến ôm hôn cô gái cùi. Mọi người sững sờ. Trong phút chốc cả đám người cùi nhào đến bên ông. Và một tiếng thốt lên trong nghẹn ngào: Hôm nay, tôi cảm thấy chúng tôi là người.”
Trở về với đoạn Phúc Âm, chúng ta có thể phân ra như sau: câu 40: Cuộc gặp gỡ giữa người Phong với Giêsu, và người bị Phong mở lời xin được chữa lành. Câu 41: Giêsu chữa lành. Câu 42: Anh bị bệnh Phong được sạch. Câu 43-44: cấm không được loan truyền tin chữa lành, mà chỉ đến tŕnh diện các tư tế. Câu 45: Dù bị cấm nhưng người khỏi bệnh vẫn lên đường loan báo tin vui.
Suy niệm
- Câu 40 kể là có một người bị bệnh Phong đến gặp Giêsu. Người bị bệnh Phong trong đôi mắt của người Do-thái, là người có tội với Thiên Chúa, đời sống của họ xa cách Thiên Chúa. Ở đây Adolf Pohl như đặt ḿnh vào trong thân phận của người Phong và tự nói với ḿnh rằng: “Tôi không hợp với Chúa. Tôi không xứng đáng có tương quan với Chúa.... Tôi không phải là con cái của Chúa, mà là con cái của thế gian. Tôi chỉ được “trang điểm” bởi một “lớp phấn Kitô hữu” rất mỏng. Trong cộng đoàn tốt lành kia, tôi là một cái xác lạ lẫm. Tôi không c̣n thật nữa: “Chẳng lẽ người phàm công chính trước Thiên Chúa? “Chẳng lẽ con người lại thanh sạch trước Đấng dựng nên ḿnh?” (Gióp 4, 17)
Chính người Phong hủi đó hôm nay lại đến với Giêsu. Trong khi mọi người đều xa lánh anh ta, nếu anh ta xuất hiện trên đường. Vâng, chỉ có Giêsu th́ không chạy trốn, chỉ có Giêsu ở lại và để cho anh ta đến với ḿnh. Cha Cantalamesse giải thích rằng: “Chúa Giêsu không sợ lây, Người để kẻ phong đến với Người và qú trước mặt Người. C̣n hơn điều đó: trong một thời đại khi người ta tưởng rằng chỉ sự ở gần người bệnh phong là đă lây nhiễm rồi, Người giơ tay và đụng vào anh.” Chúng ta đừng tưởng tất cả sự này là tự nhiên và không bắt Chúa Giêsu trả giá nào. Là con người, Chúa chia sẻ trong sự này, như trong nhiều điểm khác, những xác tín của thời đại Người và của xă hội Người đương sống. Nhưng sự thương cảm của Người đối với người bệnh th́ mạnh trong Người hơn là sự sợ bệnh phong”
Khi đến gần Giêsu, người Phong quỳ xuống dưới chân Chúa và mở lời van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Thái độ quỳ xuống dưới chân ở đây đúng là thái độ kêu xin khẩn nài. Chúng ta có thể thấy ở đoạn khác: “Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giêsu, ông ta sụp xuống dưới chân Người” (Mc 5, 22) hay “Thật vậy, một người đàn bà có đứa con gái nhỏ bị quỷ ám, vừa nghe nói đến Người, liền vào sấp ḿnh dưới chân Người.” (Mc 7, 26). Thái độ của anh bạn Phong không chỉ nói lên lời khẩn nài kêu xin, mà theo Rudolf Pesch và Adolf Pohl, th́ c̣n nói lên niềm tin tưởng của anh vào Chúa Giêsu. Ở đây, chúng ta thấy rằng, anh đă nói: “Nếu Ngài muốn”,chứ không nói như người cha có con bị bệnh câm: “Nhưng nếu Thầy có thể làm được ǵ...”(Mc 9, 22). Tâm t́nh của anh bạn bị Phong hàm chứa một niềm tin chắc chắn vào Đấng yêu thương và quyền năng. Phải chăng anh ta tin rằng, Đấng có lần nói với ḿnh: “Con là con yếu dấu của Cha”, sẽ không bao giờ bỏ rơi anh, chính Ngài sẽ giải thoát và cứu chữa anh? Phải chăng, với thái độ và lời nói của ḿnh, anh muốn cầu nguyện với Chúa rằng: “Lạy Chúa! Xin thương xót con, con không giấu Chúa những vết thương của con, Chúa là bác sĩ, con là bệnh nhân; Chúa đầy ḷng thương xót, con th́ khốn khổ” (“Confessions,” X,39).
Ngoài ra, Adolf Pohl c̣n chú ư một điều nữa, là anh bị bệnh Phong trong câu nói kia, đă nhắc đến hai từ “Ngài” và chỉ có một từ: “tôi”. Chúng ta thấy qua lời xin trên đụng tới quyền năng của Giêsu. Ở đây theo Rudolf Pesch th́ quyền năng của Giêsu là quyền năng của Thiên Chúa. Vâng, Giêsu có muốn sử dụng quyền năng của ḿnh để cứu chữa người bất hạnh kia không? Với tâm t́nh của sách Khôn Ngoan 11, 23: “Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, v́ Chúa làm được hết mọi sự”, chúng ta tiếp tục chiêm ngắm thái độ của Giêsu.
- “Người chạnh ḷng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!”(câu 41) Lời kêu xin của ang bị bệnh Phong thúc đẩy Giêsu mạnh đế nỗi, Giêsu đă tỏ ra bốn hành động liên tiếp. Ở đây chúng ta chú ư đến 4 động từ: (1) Người “chạnh ḷng thương”. Theo Adolf Pohl th́ các tác giả nhất lăm không bao giờ dùng từ chạnh ḷng thương này để chỉ về sự thương hại, sự tội nghiệp cho bất cứ con người nào. Từ “chạnh ḷng thương” như diễn tả ḷng thương xót của Thiên Chúa. Cho nên ở đây không ám chỉ đến cảm giác tội nghiệp của Giêsu, mà diễn tả thực sự thiên tính của Ngài - một Thiên Chúa là t́nh yêu. Vâng, với ĐTC Biển Đức, th́ trong câu chuyện này “Chúa Kitô là “bác sĩ”chân thật của nhân loại, là Đấng Chúa Cha từ trời đă sai xuống thế gian hầu chữa lành con người, bị đánh dấu trong thân xác và tinh thần bởi sự tội và các hậu quả sự tội....Tin Mừng Thánh Marcô giới thiệu cho chúng ta Chúa Giêsu Đấng, lúc bắt đầu thừa tác vụ công khai của Người, hoàn toàn hiến ḿnh để rao giảng và chữa lành người bệnh trong những làng xứ Galilêa. Những dấu lạ vô kể Người thực hiện cho người bệnh xác nhận “tin mừng” Nước Chúa. Tin Mừng hôm nay tường thuật sự chữa lành một người phong và diễn tả với hiệu quả lớn cường độ tương quan giữa Thiên Chúa và con người, tóm tắt trong một cuộc đối thoại kỳ lạ: Người phong nói “nếu ngài muốn, ngài có thể chữa tôi được sạch”, Chúa Giêsu trả lời “Tôi muốn, anh hăy sạch”, tay Người đụng vào ḿnh anh và giải cứu anh khỏi bệnh phong (Mc 1, 40-42).” Hành động thứ hai (2) Người “giơ tay”. Theo Rudolf Pesch th́ hành động này biểu tượng cho sức mạnh và động từ (3) “đụng” vào anh là biểu tượng cho việc truyền sức mạnh của Chúa Giêsu lên trên người bị bệnh Phong. Vâng, sức mạnh của t́nh yêu, sức mạnh đem lại sự chữa lành. Chúng ta cũng có thể nhớ lại h́nh ảnh Giêsu đối với nhạc mẫu của Phê-rô: “Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.” (Mc 1,31). Ngoài ra, về hành động (2) và (3) này ĐTC diễn tả rất hay: “Cử chỉ này của Chúa Giêsu, Đấng giơ tay và động tới thân ḿnh đầy vết thương của kẻ kêu xin Người, bày tỏ rơ ràng ư muốn Thiên Chúa chữa lành tạo vật sa ngă của Người, Chúa Kitô là “tay” Thiên Chúa giang ra cho nhân loại hầu nhân loại có thể được giải thoát khỏi những đống cát di chuyển bệnh tật và sự chết, hầu trỗi dậy bằng cách dựa vào tảng đá vững chắc của t́nh yêu thần linh (x. Tv 39, 2-3).”
Tiếp theo ba hành động kia là lời nói (4)”Tôi muốn, anh sạch đi! “ Đây là lời có sức chữa lành. Lời có sức chữa lành này Chúa Giêsu cũng lên tiếng với con gái ông Gia-ai: “Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha kum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi! “ (Mc 5, 41) hay Chúa Giêsu đă thốt lên “Ép-pha-tha”, nghĩa là: hăy mở ra” để chữa lành cho người vừa điếc vừa ngọng.(ss. Mc 7, 34).
- Sau 4 hành động của Chúa Giêsu, th́ điều ǵ đă xảy ra? “Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch” (câu 42) Điều xảy ra đúng như ĐTC vừa nói ở trên, là phục hồi sự sống cho anh bị bệnh Phong “cách dồi dào” (Ga 10,10), sự sống trọn vẹn, hạnh phúc, đời đời. Cụ thể hơn, chúng ta để ư tới từ “lập tức”. Từ này diễn tả sống động quyền năng và sức mạnh của Giêsu. Ngoài ra, động từ “biến” thuộc về bản chất của ma quỷ, chúng nhập vào và rồi lại biến đi. Tuy vậy, câu chuyện chữa lành anh bị Phong đây không thể so sánh được với những câu chuyện Chúa xua đuổi ma quỷ. Vâng, giờ đây anh được sạch rồi. Một tin vui thật lớn!
- Tin vui này có được phép loan truyền rộng răi ra không? 43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay,44 và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói ǵ với ai cả, nhưng hăy đi tŕnh diện tư tế, và v́ anh đă được lành sạch, th́ hăy dâng những ǵ ông Mô-sê đă truyền, để làm chứng cho người ta biết.”(câu 43 và 44)
Nếu anh mới được chữa lành khỏi bệnh Phong không được phép nói với bất cứ ai về việc Giêsu chữa cho ḿnh, th́ không đúng, v́ theo câu 44 anh phải đi tŕnh diện nơi các tư tế, để họ chứng thực anh được khỏi bệnh, như anh mù trong phúc âm Gioan. (ss. 9, 1-41) Vâng, anh thanh niên đă được thanh sạch khỏi bệnh Phong cần được xă hội đón nhận, cần có được một chỗ đứng hẳn hoi. Tương quan với Chúa và tương quan với người khác luôn đi đôi với nhau. Sau khi tŕnh diện nơi các tư tế xong theo như luật Môi-sê (Lê-vi 14, 1-9), th́ anh cần phải dâng lễ vật như Mô-sê đă truyền (ss. Lê-vi 14, 10 và 21tt). Và như vậy người ta sẽ biết về sự thanh sạch của anh. “Người ta” ở đây chỉ số nhiều, theo Adolf Pohl nghĩa là những tư tế ở Ga-li-lê-a mà anh ta tŕnh diện, và những tư tế ở Giê-ru-sa-lem nơi anh ta dâng của lễ.
Như vậy phải hiểu làm sao điều Chúa Giêsu ngăn cấm? Theo Pesch th́ anh không nên nói về việc anh được chữa lành, mà qua chính sự tŕnh diện và nghi thức dâng của lễ theo luật Mô-sê, anh sẽ được chứng thực khỏi bệnh. Ngoài ra, theo các nhà chú giải, th́ v́ Chúa Giêsu c̣n phải thi hành sứ mạng của Ngài. Nếu danh tánh của Ngài mà bị rao truyền khắp nơi, có thể Ngài bị cản trở không tự do đi lại được nữa, và qua đó ảnh hưởng đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Ngài. Chúng ta có thể thấy được hậu quả về điều này, khi đọc câu 45. Sau khi anh ta tung tin ra, th́ Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được nữa. Mặt khác, sự nghiêm cấm này liên quan đến chính thân phận của Chúa Giêsu: Trong Ngài chính Đấng Tạo Dựng và công tŕnh cứu rỗi đang hiện diện. Vâng, Giêsu không phải là một tiên tri, mà là một Tiên Tri trọn hảo. Ngài là Con Thiên Chúa: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài ḷng về Con.” (Mc 1, 11) Và điều này không được phép tiết lộ ra. V́ nếu người Do Thái, dân đang trông chờ Đấng Messia, mà biết được, th́ có lẽ chương tŕnh của Chúa Giêsu sẽ chưa được nửa đường đă găy cánh. Vâng, chương tŕnh của Giêsu, Đấng Messia đích thực, đâu có hợp với sự mường tượng và mong đợi của dân Do-thái. Chúng ta cứ chiêm ngắm cuộc đời của Ngài th́ sẽ nhận ra ngay.
Như vậy, anh thanh niên được thanh sạch đă không giữ lời nghiêm cấm của Giêsu. Một cách nào đó chúng ta cũng có thể thông cảm với anh, v́ trước một phép lạ, một ơn cứu rỗi quá lớn lao trên chính bản thân ḿnh, anh ta không thể nào câm lặng không rao truyền về vị thầy thuốc tốt lành tài ba. Ở đây, Mác-cô một cách nào đó đă cố ư làm nổi bật việc tung tin của anh thanh niên này, như là một cách rao giảng Tin Mừng, giống như người thanh niên được Chúa Giêsu chữa lành khỏi bị quỷ ám trong chương 5, 18-20: “Khi Người xuống thuyền, th́ kẻ trước kia đă bị quỷ ám nài xin cho được ở với Người. Nhưng Người không cho phép, Người bảo: “Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đă làm cho anh, và Người đă thương anh như thế nào.” Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập Tỉnh tất cả những ǵ Đức Giêsu đă làm cho anh. Ai nấy đều kinh ngạc.”
Tham khảo
- Về sự chữa bệnh của Chúa Kitô. Bài huấn dụ của ĐTC Biển Đức XVI tŕnh bày lúc trưa khi ngài đọc kinh Truyền Tin từ cửa sổ văn pḥng ngài với hàng ngàn người tập hơp trong Quảng Trường Thánh Phêrô. VietCatholic News 13/02/2006
- Cha Raniero Cantalamessa Ḍng Capuchine, người giảng Phủ Giáo Hoàng, giải thích Tin Mừng Chúa Nhật VI TN: Những bệnh phong hủi mới của xă hội VietCatholic News 11/02/2006
- Rudolf Pesch,
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
NGƯỜI PHONG CÙI ĐƯỢC SẠCH
Trong Tân Ước không có chứng bệnh nào bị coi là khủng khiếp đáng thương hại bằng bệnh phong cùi. Lúc Chúa Giêsu sai mười hai tông đồ, Ngài truyền dặn “Hăy chữa lành kẻ đau… làm sạch người phong”(Mt 10,8). Số phận người phong rất hẩm hiu. E.W.G. Masterman trong bài viết về bệnh phong in trong bộ “Tự điển Về Chúa Cứu Thế và Các Sách Phúc Âm” mà chúng tôi sẽ trích dẫn phần lớn có nói “không có bệnh nào khác đẩy người ta vào một t́nh trạng bị ghê tởm quá lâu năm như thế”. Trước hết, chúng ta hăy xét những sự kiện.
Có ba loại bệnh phong:
1/ Có bệnh phong do lao xương, nó bắt đầu bằng vô số lần hôn mê, rời ră và đau nhức ở các khớp xương, rồi nó xuất hiện trên thân thể, đặc biệt là trên lưng thành từng mảng da tái nhợt. Trên các mảng da ấy h́nh thành những mụn nhỏ ban đầu màu hồng sau chuyển sang màu nâu. Da trở nên dày hơn. Các mụn nhỏ đặc biệt tập trung tại các nếp da trên má, trên mũi, trên môi và trên trán. Cả gương mặt bị thay đổi hoàn toàn, khiến mặt bệnh nhân không c̣n là mặt người nữa và theo người xưa nói, th́ trông giống như mặt sư tử hay dê thần. Các mụn cứ lở loét và từ đó có nước thối chảy ra. Lông mày rụng hết, đôi mắt sáng lên, giọng nói trở thành khàn khàn và hơi thở th́ kḥ khè v́ những vết ung thối gây ảnh hưởng trên các dây thanh quản. Tay chân cũng lở loét. Dần dần bệnh nhân trở thành một khối lở loét. Thời gian trung b́nh của căn bệnh là chín năm và nó kết thúc bằng sự sa sút tinh thần, hôn mê, rồi chết. Bệnh nhân trở thành hết sức ghê tởm cả cho chính ḿnh lẫn người khác.
2/ Có bệnh phong tê, các giai đoạn đầu của bệnh này cũng giống như trên, nhưng trong loại này các dây thần kinh nhiễm bệnh. Các khu vực bị nhiễm mất hết cảm giác. Nó có thể xảy ra mà bệnh nhân chẳng hay biết ǵ cả, ngay khi bị đốt hay bị cắt vẫn không có cảm giác đau ở những chỗ đáng lẽ phải đau. Bệnh càng phát triển th́ những chỗ dây thần kinh nhiễm bệnh trở thành nhợt nhạt, biến thành vết phồng lên. Các bắp thịt biến dần, các gân teo lại cho đến khi đôi tay bị có quắp lại. Móng tay rồi cũng biến dạng, rồi có những mụn lở loét ở bàn chân, bàn tay. Các ngón chân ngón tay rụng dần cho đến cuối cùng, cả bàn tay hoặc bàn chân có thể cụt hẳn. Căn bệnh kéo dài khoảng hai mươi đến ba mươi năm năm, đây là một cái chết dần ṃn khủng khiếp của thân xác.
3/ Loại bệnh phong thứ ba là loại phổ biến nhất, kết hợp cả hai loại phong lở và phong tê.
Đó là bệnh phong nói chung, chắc đă có nhiều người phong như vậy tại Palestine và thời Chúa Giêsu. Bệnh phong được mô tả ở Lêvi 13 và theo phần mô tả đó th́ rơ ràng vào thời Tân Ước, từ “phong” được dùng chỉ nhiều chứng bệnh ngoài da khác. Dường như nó cũng dùng chỉ bệnh “bạch tạng” phủ toàn thân bằng những mảng da màu trắng, và có lẽ do đó mà có câu nói “bị phong trắng như tuyết”, dường như nó c̣n gồm cả bệnh sài (ring-worm) vốn khá phổ biến bên phương đông. Từ Do Thái chỉ bệnh phong ở Lêvi là tsaraath, nhưng Lêvi 13,47 c̣n đề cập tsaraath của y phục, và tsaraath trong nhà th́ được đề cập trong Lêvi 14,33. Những vết ố trên quần áo có lẽ do nhữngg loại nấm những mốc, ở trong nhà th́ có lẽ do nhũng loại nấm mốc trên cây mục hay trên loại rêu thường mọc trên đá. Dường như từ tsaraath, bệnh phong theo ư nghĩa của dân Do Thái bao gồm tất cả các chứng bệnh ngoài da lan dần che phủ cả thân thể. Với kiến thúc y khoa thô thiển thời bấy giờ, không thể chuẩn đoán để phân loại các chứng bệnh ngoài da, nhưng gộp chung cả chứng bệnh nan y, chết người với những chứng bệnh không nguy hiểm mấy vào cùng một loại cũng tương đối vô hại.
Bất kỳ chứng bệnh nào như kể trên đều khiến bệnh nhân bị ô uế, bị cấm thông công, giao thiệp với mọi người, phải ở riêng bên ngoài trại, đi đây đó với quần áo rách rưới, đầu trần, toàn thân che kín đến tận môi trên, vừa đi, vừa phải la lên “ô uế, ô uế” để báo cho mọi người về sự hiện diện ô uế của ḿnh. Chúng ta có thể thấy cùng một cảnh tượng như vậy vào thời Trung cổ và đó chỉ là một h́nh thức áp dụng luật Môsê. Vị linh mục mặc áo choàng, cầm thập giá dẫn kẻ phong vạ nhà thờ, đọc kinh hành lễ an táng cho bệnh nhân. Người phong tuy c̣n sống nhưng bị kể như đă chết. Người ấy phải mặc y phục đen để mọi người có thể nhận thấy và người ấy sống trong một trại cùi. Người ấy không được tham dự một buổi hành lễ trong nhà thờ, nhưng có thể nh́n qua một cái lỗ dành cho người phong đục trong vách khi buổi lễ được cử hành. Chẳng những kẻ phong phải chịu sự đau đớn thể xác mà c̣n phải gánh chịu nỗi buồn khổ và đau đớn tinh thần v́ bị xă hội ruồng bỏ và thật sự bị xa tránh như người ta tránh xa bệnh dịch vậy.
Nếu người phong được lành, bệnh phong thật sự vốn là nan y nên có lẽ ở đây ám chỉ các chứng bệnh ngoài da khác, người ấy phải trải qua một nghi lễ phức tạp về việc được lành bệnh như đă mô tả trong Lêvi 14. Người ấy phải được thầy tư tế khám xét, phải đem đến hai con chim, một con bị giết trong ḍng nước chảy, thêm vào đó c̣n phải đem cây hương nam, màu đỏ sậm và nhành kinh giới, các vật ấy và con chim c̣n sống được nhúng vào máu của con chim đă bị giết, sau đó thả con chim bay đi. Người lành bệnh phải tắm rửa, thay y phục và cạo râu tóc. Bảy ngày sau, người ấy được tái khám. Bấy giờ, người ấy lại phải cạo lông, tóc, râu và lông mày. Rồi một số của lễ được dâng lên gồm hai con chiên đực không tỳ vết, một chiên cái chưa giáp năm, bột lọc chế dầu làm của lễ chay và một ít dầu. Số của lễ được giảm bớt cho người nghèo. Thầy tư tế lấy máu con vật và dầu bôi trên trái tai hữu, ngón tay cái bên mặt và trên ngón chân cái bên mặt của người được lành bệnh. Thầy tư tế khám xét lần cuối và nếu quả thật người ấy đă được lành bệnh, th́ cho phép ra về với tờ chứng nhận người ấy đă được sạch.
Đây là một trong những bức tranh nổi bật của Chúa Giêsu:
1/ Ngài không xua đuổi kẻ đă vi phạm luật. Người phong không hề được quyền tṛ chuyện với Ngài, nhưng Chúa Giêsu đă thoả măn nhu cầu của một người lâm cảnh tuyệt vọng bằng thái độ thương xót và đầy cảm thông.
2/ Chúa Giêsu đă đưa tay ra chạm đến bệnh nhân. Ngài đă rờ tay vào kẻ ô uế. Với Chúa Giêsu th́ người ấy không ô uế, người ấy chỉ là một linh hồn đang lâm cảnh tuyệt vọng cần được cứu giúp.
3/ Sau khi chữa lành người ấy, Chúa Giêsu dạy người ấy nên đi về, làm đúng mọi thủ tục đă ấn định. Chúa Giêsu giữ đúng luật lệ và sống công chính theo cách loài người. Ngài không bướng bỉnh thách đố các quy ước của loài người, nhưng khi cần, Ngài sẵn sàng phục tùng các quy ước ấy.
Ở đây chúng ta thấy cả ḷng thương xót, quyền năng và sự khôn ngoan được kết hợp.
Có người bị phong hủi đến
gặp gỡ Đức Giêsu... và dân chúng từ khắp
nơi tuôn đến với Người.
Theo lối hành văn Sêmít cổ xưa, mà người ta gọi là “gom kết” lại, th́ trang Tin Mừng của Mác-cô trên đây được đóng khung trong hai câu giống nhau. Ở đầu tŕnh thuật ông diễn tả một bước chân của cá nhân. Kết thúc tŕnh thuật, ta thấy nhiều người đến từ khắp nơi.
Đức Giêsu, là chính Thiên Chúa đến gặp gỡ con người. Nhưng con người, cũng phải đến gặp gỡ Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin dẫn con đến gặp gỡ Chúa.
Anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.
Đừng quên chúng ta mới ở chương đầu của Tin Mừng Maccô. Con người đó thật là mạnh dạn, hay anh ta đă có một ḷng tin phi thường. Anh ta làm một cử chỉ: thưa gửi vài lời. Đó là những ǵ mà người ta thường chỉ có thể làm và nói với một ḿnh Thiên Chúa.
Thực tế vào thời đó, bệnh phong hủi vẫn c̣n là một thứ bệnh không thể chữa trị được. Việc chữa lành người phong hủi là một thứ kỳ công giống như việc phục sinh một người chết. Đó là một trong những “dấu chỉ” của thời Thiên Sai (Mt 11,25; Lc 7,18-22). Thái độ khiêm tốn phủ phục của người phong hủi biểu lộ ḷng tin của anh nơi Đức Giêsu. Đúng vậy, có những t́nh huống mà cách cầu cứu duy nhất là “kêu xin” Thiên Chúa, Đấng làm chủ tất cả, ngay cả những ǵ con người không thể thực hiện được: “Thưa Ngài, Ngài muốn là Ngài chữa tôi được khỏi bệnh”. Đó là một lời nguyện xin cần được lặp đi lặp lại.
Động ḷng thương trước người đó.
Ở đây bản thảo Hy Lạp giữ hai từ: “splagknisteis” có nghĩa là động ḷng thương, xốn xao ḷng dạ, cảm động đến tận tâm can, và “orgisteis” có nghĩa là “nổi giận”. Thiếu ǵ dịp Maccô đă sử dụng rất chính xác từ “nổi giận” nhưng ở đây thật là khó giải thích: Trường hợp một kinh sư, khó chịu trước kiểu nói trên, có lẽ ông ta đă làm giảm nhẹ ư nghĩa. Nhưng v́ cả hai “câu dịch” đều có trong bản thảo, nên suy nghĩ về hai ư nghĩa, tưởng là không vô ích. Tại sao Thánh Thần, Đấng linh hứng Kinh thánh, lại không có thể đi đến mức đó, nghĩa là có thể sử dụng những sai lầm của những người sao chép Kinh thánh để nói với ta? Dù sao, qua hai từ trên, chúng ta cũng nhận thấy một “phản ứng rất nhân bản”! Việc nhập thể của Thiên Chúa thật là “hiện thực”, đi tới t́nh trạng chấp nhận cả những t́nh cảm của con người tầm thường như thế: xót thương, giận hờn. Lạy Chúa. Xin tạ ơn Chúa v́ đă muốn cảm nghiệm những cảm xúc của chúng con và đă bầy tỏ cách công khai những diễn biến t́nh cảm đó. Nổi giận... “Thực ra điều đó ư nghĩa ǵ? Riêng tôi, tôi thấy ở đó phản ứng tự nhiên của Thiên Chúa trước nỗi đau khổ của con người”. Đức Giêsu nh́n thấy tận mắt một khuôn mặt đáng thương bị các vết thương mâng mủ làm biến dạng. Và Người không thể chịu nổi điều đó, Người nổi giận. Đừng quên rằng, Đức Giêsu là Chính “Thiên Chúa hiện h́nh cụ thể”. Qua thái độ biểu lộ tính khí trên, Đức Giêsu muốn nói với ta rằng, Thiên Chúa lên án định mệnh khắc nghiệt của con người, luôn bị bệnh tật tác hại trên thân xác. Phẫn nộ, đó cũng là phẫn nộ của biết bao người, nhưng trước “vấn đề sự dữ”, họ chỉ biết chống đối mănh liệt nhất đến nỗi phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.
“Động ḷng thương”. Kiểu nói này ta có thể hiểu ngay. Thực vậy, Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa vô cảm, dửng dưng, nhưng là một Thiên Chúa dễ bị thương tổn một Thiên Chúa cùng chịu khổ với nhưng người đau khổ, một Thiên Chúa mang trên ḿnh những thương tích của chúng ta (Is 53,5). Đấng “làm cho Thiên Chúa hiện diện cụ thể” nói cho ta biết tấm ḷng tŕu mến của Thiên Chúa đối với bệnh nhân. Vậy khi nào chúng ta mới chấp nhận thế giới này, như thực trạng hiện nay của nó, không thể “hoàn hảo” được? Chỉ có ḿnh Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chỉ có ḿnh Thiên Chúa là hoàn hảo. Thế gian không phải là “Chúa”. Thế gian không thể hoàn hảo. Thiên Chúa đă không thể làm khác hơn là tạo dựng một thế gian “không phải là Chúa nếu không Người đă không làm được điều ǵ cả, và Người có thể sẽ muôn đời cô đơn. Do đó, Người đă quyết định tạo dựng con người, được ghi dấu ấn “hữu hạn”, rơ ràng “không phải là Chúa”. Và như thế, con người phải gánh chịu những rủi ro về t́nh trạng sức khỏe suy sụp, với khả năng nguy hiểm trở thành phong hủi, điên khùng, khi các nhiễm thể hoạt động lệch lạc. Cần phải có can đảm nh́n thẳng vào “thế gian này”. Nhưng, nếu Thiên Chúa tạo thành một tạo vật mang dấu tích hạn hẹp và bất toàn, th́ Người chỉ tạo dựng nó trong chương tŕnh là một ngày kia sẽ ban cho nó sự sống thần thiêng của Người.
Đối với Thiên Chúa, con người chưa hoàn hảo, v́ chưa được sống lại, chưa được thần hóa. Và sự dữ tác hại con người; đă làm cho Người “nổi giận”, đă khơi dậy “ḷng thương xót” của Người. Do đó, Đức Giêsu chữa lành một số người bệnh, như là một “dấu chỉ” báo hiệu ngày cánh chung, lúc đó mọi sự “sẽ được hoàn tất” (Rm 8,18).
Đức Giêsu giơ tay đụng vào anh ta
Chúng ta lại có dịp suy nghĩ đến “bàn tay”. Ở đây, đối với một người phong hủi, một người “không ai được sờ động đến”, th́ cử chỉ của Đức Ǵẽsu phải mang một ư nghĩa đặc biệt v́ không ai được sờ chạm, ôm ấp, vuốt ve họ bao giờ cả. Luật đă cấm như thế. Ngay cả, khi một ai đó tiến lại sát kề họ, họ cũng phải kêu to lên để người khác lánh xa: “Nhơ! Nhơ!”: Thế mà ở đây, Đức Giêsu lại dám phá đổ một điều cấm kỵ nguy hiểm đó: Người đụng chạm đến người phong hủi.
Người bảo: “Tôi muốn, tôi cho anh được khỏi bệnh”.
Đức Giêsu cứu chữa, nhờ một “cử chỉ” và “bằng một lời phát biểu: Đó là nguyên lư để cử hành mỗi bí tích. Chúng ta là những tạo vật có thể xác, và chúng ta cần đến những cử chỉ trên thân xác. Khi chịu phép rửa, nước đổ trên trán chúng ta, th́ một lời cũng được đọc lên nói rơ ư nghĩa của cử chỉ đó. Trong Bí Tích Thánh Thể, khi bánh ban sự sống chạm đến tay và liên hệ đến thân xác ta; th́ đồng thời cũng có một lời đọc nêu lên ư nghĩa: “Ḿnh Thánh Đức Kitô”.
Tôi cũng có thể dành một chút thời gian để suy gẫm về lời phát biểu: “Tôi muốn!”. Ở đây, một lần nữa, người dịch đă làm giảm nhẹ ư nghĩa bản văn chính thức bằng tiếng Hy Lạp của Maccô (thật là đáng tiếc!). Người phong hủi đă không nói: “Nếu Ngài muốn điều đó”, nhưng là nếu Ngài muốn”. Và Đức Giêsu cũng không đáp lại: “Tôi muốn điều đó”, mà là “Tôi muốn”. Điểm quan trọng muốn đề cao ở đây, không phải là đại danh từ “điều đó”, những quyền năng thuộc nguyên ư muốn của Đức Giêsu, nghĩa không nhấn mạnh đến điều mong muốn.
Ngay tức khắc, chứng phong hủi biến đi, và anh ta được khỏi bệnh
Câu nói trên phản lại bối cảnh văn hóa của thời đại, là Maccô lúc đó đang viết Tin Mừng. Đối với một người Do Thái, bệnh phong hủi là một “h́nh phạt của Thiên Chúa”, Đấng đă phạt Mytiam, chị của Môsê (Ds 12,9).
Gêhadi, đầy tớ của Êlisê (2V 5,27), Ôdia, ông vua đầy tham vọng (2Sb 26,16). Bệnh phong hủi là chứng bệnh gây sợ hăi, đến nỗi có người kinh sợ dù chỉ nh́n thấy một vết loang lổ trên tường. V́ thế, sách Lê vi đă dành cả hai chương nói về bệnh này. Chứng bệnh làm cho mặt và tay chân người bệnh thối rữa, chứng tỏ sự khủng khiếp của nó. Người ta coi đó như sức tác hại của ma quỷ. Nói đúng ra, người bị phong hủi không được sống thông hiệp với kẻ khác, bị loại ra khỏi cộng đoàn (Lv 13,1-6). Trong chứng bệnh làm ung thối con người như thế, người ta coi đó là “biểu tượng” của tội lỗi. Như thế, ai mà không bị phong hủi! Và ai sẽ cứu chữa ta khỏi chứng bệnh ác độc đó? Thưa, đó là nhờ sự “tiếp cận” và “lời” của Đức Giêsu. Lạy Chúa Giêsu Kitô, nhờ Ḿnh Chúa xin cứu chữa tâm hồn con người hôm nay. Hiện nay, vẫn c̣n hàng triệu người trong các nước thuộc thế giới thứ ba mắc bệnh phong hủi.
Và giũa chúng ta trong những xă hội tân tiến, vẫn cần t́m kiếm những bàn tay và những tấm ḷng để thực hiện tác động “chữa lành” của Đức Giêsu đối với biết bao người nghèo khó: Đó là những người không có vẻ đẹp và ngoại h́nh lôi cuốn cái nh́n của kẻ khác, đó là những kẻ bị gạt ra khỏi xă hội chúng ta, những trẻ em khuyết tật, những người mắc bệnh nan y.
Người nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay.
Đó là câu dịch chính xác theo đúng bản văn của Maccô (nhưng ta cũng thấy có kiểu dịch làm giảm nhẹ ư nghĩa: “Người cho anh ta ra về với lời cảnh giác nghiêm trọng”). Nếu tôn trọng bản văn, th́ Chúa Giêsu được giới thiệu cho ta ở đây, không phải là hạng người “nhu ḿ”, mà các bức ảnh thuộc thế kỷ trước đă tŕnh bày cho ta, nhưng là một con người đầy cương nghị.
Coi chừng, không được nói ǵ với ai cả.
Như Đức Giêsu đă truyền cho quỷ phải im lặng, Người cũng đ̣i buộc kẻ được ơn lạ phải im hơi lặng tiếng, kiểu nói rất mạnh: “không ǵ hết”, “không với một ai cả”.
Đó là “bí mật Thiên Sai” nổi tiếng, đă được Maccô lặp đi lặp lại tới 10 lần trong Tin Mừng của ông. Do đó, hầu như Đức Giêsu tránh làm phép lạ, v́ thường bị người ta hiểu lầm! Người Do Thái (và cả chúng ta nữa!) dễ mong đợi một Đấng Mêsia theo kiểu trần gian. Từng đám đông tuôn đến với hy vọng rằng, Đức Giêsu có thể mang lại cho họ hạnh phúc đời này, Người có thể giải quyết những vấn đề thuộc sức khỏe, hay khôi phục nền độc lập có tính chính trị. Đúng vậy, đối với Đức Giêsu, làm phép lạ thật là nguy hiểm! Điều đó có thể làm hỏng sứ vụ của Người, hay có thể làm cho người ta hoàn toàn hiểu sai ư nghĩa. Các phép lạ có thể làm cho nhiều người tưởng rằng, Nước Thiên Chúa chỉ bao gồm một thứ hạnh phúc tầm thường. Đúng ra, công cuộc cứu độ thực sự việc cứu rỗi triệt để, mà Đức Giêsu tŕnh bày, chỉ có thể được hiểu tường tận dưới ánh sáng tử nạn và phục sinh của Chúa. Cần phải chờ đợi đến lúc đó để không c̣n lầm lẫn nữa về bản chất của công cuộc “giải phóng” con người, mà Đức Giêsu chủ động thực hiện! C̣n những việc chữa bệnh chỉ là cách loan báo sự sống lại.
Nhưng lo đi tŕnh diện tư tế, và v́ anh đă được khỏi bệnh, th́ hăy dâng của lễ như ông Môsê đă truyền để làm chứng cho người ta.
Đức Giêsu truyền cho người được ơn lạ phải im lặng, không được lộ chuyện với dân chúng, đồng thời Người cũng trao cho anh trách nhiệm phải đến gặp các tư tế. Đây là việc rất cần thiết, để có thể tái hội nhập vào xă hội. Nhưng hơn nữa, Đức Giêsu c̣n muốn mở mắt các tư tế ở Giêrusalem là những người sẽ ḱnh chống Người kịch liệt. Cho họ dấu chỉ thiên sai qua việc chữa lành người phong hủi, để họ sẽ không có lư do nào biện minh khi họ kết án Người. (Ga 15,22).
Nhưng vừa ra khỏi đó, anh ta đă vội công bố và tung tin ấy ra; đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.
Đối với Maccô. “Lời” được công bố trên đây là một thuật ngữ, được ông sử dụng tới 10 lần khác nhau trong Tin Mừng: đó là Phúc Âm, là Tin Mừng. Dù bị Đức Giêsu ngăn cấm, nhưng ta thấy người được cứu chữa, khi đến lượt ḿnh lại trở nên “kẻ cứu độ” người khác. C̣n chúng ta th́ sao? Chúng ta có công bố Lời Chúa không? Một lần nữa, ta chiêm ngắm t́nh yêu Đức Giêsu dành cho bầu khí cô tịch, cho những “nơi hoang vắng”. Người thực sự là h́nh ảnh của Thiên Chúa, một Thiên Chúa kín mật, một Thiên Chúa không gây ồn ào, một “Thiên Chúa ẩn giấu”.
(Suy niệm của Đaminh Phạm Thanh Cao,
OP)
Kính thưa cộng đoàn,
Hằng ngày khi nh́n lên Thánh giá, mỗi người không khỏi tự vấn: tại sao chúng ta lại tôn thờ một Giêsu chết treo tất tưởi trên cây gỗ giá!? Điều mà người Do Thái coi là ô nhục và dân ngoại cho là điên rồ (1Cr 1,23). Thánh Phaolô trả lời cho chúng ta câu hỏi này khi chia sẻ với tín hữu Ga-lát: Ước chi tôi chẳng hănh diện về điều ǵ, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đă bị đóng đinh với tôi, và tôi với thế gian. (Gl 6,14). Đó là niềm vinh dự của thánh nhân và cũng là của chúng ta. V́ đó là cách Thiên Chúa bày tỏ ḷng thương xót và t́nh yêu của Người cách tột cùng - v́ bên kia sự chết là sự sống vinh quang.
Nếu nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói: cứu độ là như sen ngụp lặn dưới bùn lầy nhơ nhớp, hút lấy tất cả những ǵ của bùn lầy để dâng cho đời đoá sen tươi thắm th́ đây c̣n hơn thế. Chính Đức Giêsu đă mang lấy toàn bộ tội lụy và nhuốc nhơ của chúng ta vào ḿnh mà đưa lên cây thập giá và cho nở hoa vinh quang. Vinh quang này biến đổi chúng ta thành một con người hoàn toàn mới - con người trong mối hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau. Mối thông hiệp bị phá vỡ do nguyên tội nay được kết nối lại.
Cuộc kết nối này được tiên báo nhiều lần trong Cựu Ước và nhiều việc làm thi thố ḷng thương xót của Đức Giêsu. Tŕnh thuật chữa lành người phong hủi hôm nay là một trong những h́nh ảnh báo trước:
Thứ nhất: Đức Giêsu - Thiên Chúa - không đứng từ đàng xa dùng quyền năng của Người mà chữa anh nhưng đă chạnh ḷng thương, cúi xuống, đụng tới anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi”. Tức th́ anh được sạch. Được chữa lành, anh được trở lại mối thân t́nh với Thiên Chúa, v́ vào thời đó, dân Do Thái cho rằng: bệnh tật, nhất là phong hủi được coi như án phạt của Chúa trên kẻ có tội.
Thứ hai: việc người truyền anh tŕnh diện với tư tế để anh được chứng thực khỏi bệnh đồng nghĩa với việc anh được hội nhập trở lại cộng đồng. V́ vào thời Đức Giêsu người phong hủi phải sống tách biệt khỏi cộng đồng.
Như thế không phải là h́nh ảnh báo trước cuộc kết nối trọn hảo chính Đức Giêsu sẽ thực hiện nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Người! Nhưng để có thể được kết nối trở lại th́ chúng ta cần có thái độ nào. Chính người phong hủi là tấm gương sống động cho mỗi người. Chính anh đă bước ra khỏi bản thân để đến với Đức Giêsu và xin Người: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. (Mc 1, 40). Anh xin điều Đức Giêsu - Thiên Chúa muốn mà không phải theo ư anh; trong khi, thường chúng ta hay xin theo ư của ta và than trách Người khi không được như ư. Anh tin tưởng và phó thác một cách đơn thành cho t́nh thương và ḷng thương xót của Đức Giêsu. Chính v́ thế, Đức Giêsu đă thực hiện khoản luật trên hết mọi khoản luật - luật yêu thương - khi người cúi xuống, đụng tới và chữa lành anh. Điều Người không thể thực hiện tại quê hương của ḿnh khi dân chúng chỉ xin theo ư họ và không tin (Mc 6, 1-6; Mt 13, 54-58; Lc 4, 16-30).
Thật vậy, Thiên Chúa như người cha giàu ḷng thương xót trong dụ ngôn người con hoang đàng. Người luôn chờ mong và sẵn sàng mở rộng ṿng tay yêu thương và tha thứ khi người con biết nh́n nhận bản thân, tin tưởng và mở ḷng ra với cha ḿnh.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Đâu đó vẫn c̣n t́nh trạng phân biệt kỳ thị chủng tộc, tôn giáo. Đâu đó vẫn c̣n hàng rào ngăn cách đối với những người HIV, lao; những người khuyết tật; những người tù tội; những người cơ nhỡ… Đó là thứ phong hủi thời đại mới. Thứ bệnh nhiều khi chính ḿnh mắc phải mà chẳng hay. Xin thêm đức tin cho chúng con. Xin cho con biết phó thác, tin tưởng nơi Người, để Người ra tay chữa lành chứng phong hủi trong tâm hồn con. Xin cho con là cánh tay nối dài của t́nh yêu thương của Chúa trong thời đại hôm nay.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!
Cây Thánh giá gồm hai thanh: thanh dọc nối Trời và Đất, thanh ngang nối người với người. Xin cho con mang trọn thập giá đời ḿnh không phải riêng thanh ngang hay thanh dọc v́ Chúa dạy con: Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh mà theo tôi. (Mc 8, 34). Xin dùng con để con trở thành mối dây hiệp thông nơi ḿnh sinh sống để T́nh Chúa T́nh Người măi nở hoa. Amen.